Trả lời kiến nghị của doanh nghiệp tại Diễn đàn VBF cuối kỳ năm 2020

PHỤ LỤC

TRẢ LỜI KIẾN NGHỊ CỦA DOANH NGHIỆP TẠI DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM (VBF) CUỐI KỲ NĂM 2020

(Kèm theo công văn số 7959/BTC-CST ngày 20/7/2021 của Bộ Tài chính)

            1. Kiến nghị số 38

          Công văn 7183/TCHQ-TXNK ngày 02/11/2017 của Tổng cục Hải quan hướng dẫn “các sản phẩm bổ sung/thực phẩm bảo vệ sức khỏe/thực phẩm chức năng dạng lỏng…thuộc nhóm 2202”, nhưng không biết rằng nhóm Thực Phẩm Chức Năng bao gồm cả Thực Phẩm Dinh Dưỡng y tế (quy định bởi Thông tư 43/2014/TT-BYT của Bộ Y tế). Thực phẩm y tế đã được phân loại vào nhóm 1901 và 2106 theo biểu thuế hiện hành. Hướng dẫn này của Hải quan mâu thuẫn với Biểu thuế hiện hành dẫn đến nhiều khó khăn cho nhà nhập khẩu cũng như cơ quan Hải quan địa phương trong việc thực hiện.

          EuroCham đã nêu vấn đề này trong hội thảo về Sách Trắng 2020 ngày 30 tháng 6 năm 2020. Đại diện của Tổng Cục Hải Quan, Bộ Tài chính đã hứa sẽ trả lời nhưng đến nay vẫn chưa có phản hồi hoặc hướng dẫn chính thức nên Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu một lần nữa khuyến nghị Tổng Cục Hải quan làm rõ, hoặc nếu có thể, bỏ cụm từ “thực phẩm chức năng” trong Công văn 7183/TCHQ-TXNK. Nếu có vướng mắc trong việc phân loại các sản phẩm chỉ kê khai chung chung là thực phẩm chức năng, Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu đã đề nghị Tổng Cục Hải quan nên phối hợp, lấy ý kiến Bộ Y tế và các Bộ, ngành, đơn vị liên quan như Tổng Cục Thuế, Bộ Tài chính để xác định chính xác phân loại của các sản phẩm này nhằm áp dụng thuế quan chính xác và phù hợp cho các sản phẩm.

          Nội dung trả lời:

          – Căn cứ Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát, kiểm soát hải quan;

         – Căn cứ Thông tư số 14/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phân loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa, phân  tích để kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm; Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27/6/2017 của Bộ Tài chính về việc ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam; Thông tư số 09/2019/TT-BTC ngày 15/02/2019 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại các phụ lục của Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam:

          Thực phẩm dinh dưỡng y học hay còn gọi là sản phẩm dinh dưỡng y tế là thực phẩm dinh dưỡng dùng cho mục đích y tế đặc biệt, tiêu chí như sau:

          (1) là thực phẩm dùng bằng đường miệng hoặc đường ống xông (ống xông dạ dày)

          (2) nhãn gốc sản phẩm hoặc nhãn trong hồ sơ công bố sản phẩm có ghi các cụm từ sau “thực phẩm dinh dưỡng y học” và “sử dụng cho người bệnh với sự giám sát của nhân viên y tế”

          (3) tiêu chí “sử dụng dưới sự giám sát của nhân viên y tế” được xác định thông qua giấy xác nhận của Bộ Y tế (Cục An toàn thực phẩm) cho sản phẩm là thực phẩm dinh dưỡng y học hoặc giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm cho thực phẩm dinh dưỡng y học của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

          Các mặt hàng đáp ứng các tiêu chí trên sẽ được xem xét phân loại tại nhóm 19.01 hoặc 21.06.

          Việc phân loại đối với mặt hàng Thực phẩm dinh dưỡng y học đã được Tổng cục Hải quan hướng dẫn tại công văn số 4701/TCHQ-TXNK ngày 14/7/2020 để thực hiện thống nhất tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố.

          2. Kiến nghị số 39

          Căn cứ Khoản 1, Điều 2, Nghị định 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ (“Nghị định 11”) quy định về đối tượng áp dụng của Nghị định 11 như sau:

          “1. Lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam (sau đây viết tắt là người lao động nước ngoài) theo các hình thức sau đây:

          a) Thực hiện hợp đồng lao động;

          b) Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp;

          […]”

          Như vậy, pháp luật đã công nhận người lao động (“NLĐ”) nước ngoài làm việc theo hợp đồng lao động (“HĐLĐ”) và NLĐ nước ngoài làm việc theo dạng di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp là hai nhóm đối tượng khác nhau.

          Trên thực tế, thư bổ nhiệm (hoặc các tài liệu tương đương khác) đã và đang được một số cơ quan thuế địa phương chấp nhận là một trong các tài liệu chứng minh chi phí tiền lương, tiền công được trừ, thể hiện qua một số công văn như: Công văn 6990/CT-TTHT ngày 08/07/2019 và Công văn 1565/CT-TTHT ngày 28/02/2018 của Cục Thuế TP Hồ Chí Minh.

          Đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, xem xét và có hướng dẫn bổ sung thư bổ nhiệm đối với trường hợp người lao động nước ngoài làm việc xác định thời hạn dưới 01 năm là một tài liệu chứng minh chi phí tiền lương, tiền công được trừ để nhất quán với pháp luật lao động và phù hợp với thông lệ quốc tế.

          Nội dung trả lời:

          Về vấn đề này, tại công văn số 5476 /BTC-CST ngày 7/5/2020 gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đã có ý kiến: Căn cứ các quy định của pháp luật về thuế TNDN (tại điểm i Khoản 2 Điều 9 Luật thuế TNDN và điểm m Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ) thì việc sử dụng thư bổ nhiệm là tài liệu chứng minh để tính vào chi phí tiền lương, tiền công trả cho người lao động nước ngoài là chưa phù hợp.

          Theo đó, đề nghị doanh nghiệp thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về Thuế TNDN hiện hành.

          3. Kiến nghị số 40

          Theo Nghị định 36/2016/NĐ-CP (Nghị định 36) và Nghị định 169/2018/NĐ-CP (Nghị định 169), việc phân loại trang thiết bị y tế được thực hiện bởi cơ sở đã công bố đủ điều kiện phân loại trang thiết bị y tế, còn Bộ Y tế không thực hiện phân loại trang thiết bị y tế.

          Mặc dù có quy định trong Nghị định 36 và Nghị định 169, các cơ quan thuế và hải quan vẫn yêu cầu doanh nghiệp cung cấp xác nhận của Bộ Y tế cho trang thiết bị y tế nhập khẩu. Cụ thể, doanh nghiệp phải cung cấp xác nhận của Bộ Y tế để được áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% cho thiết bị chuyên dùng, vật tư hóa chất xét nghiệm, diệt khuẩn dùng trong y tế không được đề cập tại Thông tư 26/2015/TT-BTC và Thông tư 83/2014/TT-BTC. Do đó, nhiều mặt hàng trang thiết bị y tế nhập khẩu mà theo Nghị định 36 và Nghị định 169 được phân loại là trang thiết bị y tế hiện nay không được hưởng thuế suất thuế GTGT 5%.

          Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu được biết Bộ Tài chính đang soạn dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 83/2014/TT-BTC và các văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, Hiệp hội muốn lưu ý rằng Thông tư 26/2015/TT-BTC cũng là một trở ngại lớn cần được quan tâm. Vấn đề này kéo dài trong thời gian dài đã ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp nhập khẩu trang thiết bị y tế.

          Hiệp hội kiến nghị Bộ Tài chính cần ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện việc áp dụng thuế suất thuế GTGT cho TTBYT, theo Nghị định 36/2016/NĐ-CP và Nghị định 169/2018/NĐ-CP; đưa ra lộ trình cụ thể cho việc sửa đổi các văn bản hướng dẫn như Thông tư 26/2015/TT-BTC và Thông tư 83/2014/TT-BTC trong thời gian sớm nhất. Hiệp hội cũng mong Bộ Tài chính công bố dự thảo các Thông tư sửa đổi để doanh nghiệp đóng góp ý kiến trước khi ban hành theo đúng quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam.

          Nội dung trả lời:

       Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 43/2021/TT-BTC ngày 11/6/2021 sửa đổi, bổ sung khoản 11 Điều 10 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 và Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 liên quan đến nội dung thuế GTGT đối với thiết bị, dụng cụ y tế.

          4. Kiến nghị số 41

          Điểm 6 của Công văn 7203/TCHQ-TXNK cung cấp một số lý do bối cảnh:

          Theo như hướng dẫn của Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20 tháng 04 năm 2018, số lượng (1) và số lượng (2) là các trường thông tin mà người khai hải quan phải khai báo. Tuy nhiên, số liệu của Cục Thông tin cho thấy chỉ có 2% doanh nghiệp khai chỉ tiêu số lượng (2) trên tờ khai hải quan. Ngoài ra, khi kiểm tra tờ khai hải quan (trường hợp tờ khai luồng vàng, luồng đỏ), công chức hải quan thường không kiểm tra phần khai số lượng (2) trên tờ khai hải quan nên cơ quan hải quan không yêu cầu người khai hải quan phải bổ sung khi chỉ tiêu số lượng (2) để trống, không khai báo.

          Do vậy, việc thống kê, kiểm tra, đánh giá và xây dựng chính sách quan lý (cụ thể là chính sách giá) đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chưa chính xác, đang gặp vướng mắc. Theo công văn trên, trong tương lai hàng hóa phải khai báo đầy đủ tên hàng, thành phần, tính chất, cấu tạo, hàm lượng và phải có thêm khối lượng của từng mặt hàng và đơn vị đo khối lượng để kê khai vào cột số lượng (2) trên tờ khai để tránh nhầm lẫn khi làm thủ tục nhập hàng.

          Nhập khẩu phụ tùng ô tô là những bộ phận phức tạp liên quan đến các vật liệu khác nhau và không có thông tin chi tiết đến mức này.

          Kể từ ngày 11 tháng 11 năm 2020, Công văn 7203/TCHQ-TNNK đột ngột được áp dụng là một thách thức đối với các nhà sản xuất và nhập linh kiện ô tô phải đối mặt với yêu cầu đó mà không có sự phối hợp và thông báo trước để chuẩn bị. Do công nghệ phức tạp liên quan đến một số bộ phận, một số thông tin được yêu cầu sẽ không bao giờ có sẵn.

          Việc này đang tạo ra sự chậm trễ trong việc thông quan và chi phí cho các công ty và khách hàng. Các văn bản của UNECE đối với hàng hóa từ EU đã được chấp nhận trong khuôn khổ EVFTA, việc thi hành đột ngột văn bản mới như Công văn 7203/TCHQ-TNNK là một rào cản không cần thiết trong thương mại đối với các nhà nhập khẩu EU tại Việt Nam.

          Nhằm giải quyết những rào cản lớn đối với việc bảo trì, bảo hành và thu hồi kỹ thuật các phụ tùng ô tô theo yêu cầu từ các nhà nhập khẩu và lắp rắp, Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu kính đề nghị Tổng cục Hải quan Việt Nam có thể đưa ra thời gian thực hiện linh hoạt là ba năm để cho các nhà sản xuất thời gian cần thiết nhằm xác định và lưu trữ các thông tin đó cũng như đơn giản hóa dữ liệu được yêu cầu.

          Nội dung trả lời:

          Việc khai báo đơn vị tính trên tờ khai hải quan đã được quy định rõ tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 (hiệu lực từ ngày 05/6/2018). Theo đó, đề nghị doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Thông tư số 39/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính.

          Đối với Công văn 7203/TCHQ-TXNK ngày 11/11/2020 của Tổng cục Hải quan là công văn hướng dẫn nội bộ của cơ quan Hải quan để chỉ đạo các Cục Hải quan thực hiện đúng quy định tại Thông tư số 39/2018/TT-BTC. Theo thống kê kể từ khi ban hành công văn 7203/TCHQ-TXNK thì việc khai báo số lượng trên tờ khai hải quan quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 39/2018/TT-BTC đã được thực hiện đầy đủ.

          5. Kiến nghị số 42 và kiến nghị số 56

          * Kiến nghị số 42:        

          Tại Công văn 17862/BTC-TCT ngày 09/12/2014, Bộ Tài chính đã hướng dẫn nguyên tắc không thu thuế nhà thầu đối với khoản hoàn chi phí tiền lương nếu (i) khoản thanh toán của công ty con tại Việt Nam cho công ty mẹ tại nước ngoài chỉ đơn thuần là việc bồi hoàn lại toàn bộ tiền lương và các chi phí thực phát sinh mà công ty nước ngoài đã trả hộ công ty Việt Nam cho các chuyên gia biệt phái sang làm việc tại Việt Nam và (ii) các chuyên gia biệt phái đã kê khai và nộp đầy đủ thuế thu nhập cá nhân (“TNCN”) cho thu nhập toàn cầu tại Việt Nam. Tuy nhiên, gần đây, một số cơ quan thuế địa phương yêu cầu doanh nghiệp nộp thuế nhà thầu đối với khoản bồi hoàn chi phí tiền lương của nhân viên phải cử từ công ty mẹ theo hình thức di chuyển nội bộ, với lý do là những nhân viên phái cử này vẫn thuộc sự quản lý của công ty mẹ.

          Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu khuyến nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, xem xét và có hướng dẫn về việc không thu thuế nhà thầu đối với khoản bồi hoàn chi phí tiền lương của nhân viên phái cử từ công ty mẹ theo hình thức di chuyển nội bộ để tránh việc các cơ quan thuế địa phương áp dụng các quan điểm truy thu không nhất quán.

          * Kiến nghị số 56:

          Thực tế, nhiều cơ quan thuế đang dựa vào các từ ngữ thường có trong Thư bổ nhiệm như là: nhân viên phái cử vẫn là nhân viên của công ty mẹ/ được duy trì những phúc lợi theo hợp đồng lao động với công ty mẹ trong giai đoạn biệt phái, để cho rằng cá nhân không phải là người làm công của công ty con tại Việt Nam trong thời gian được phái cử sang làm việc tại công ty ở Việt Nam và kết luận đây là hoạt động cung cấp dịch vụ, nên chịu thuế nhà thầu.

          Xét toàn diện, về mặt bản chất, đây là khoản Công ty mẹ chi hộ chi phí tiền lương tiền công của bên Việt Nam, không phải phí dịch vụ của công ty mẹ, do đó, việc áp đặt thuế nhà thầu là không đúng với bản chất giao dịch.

           Chúng tôi cũng xin lưu ý rằng trước đây tại Công văn số 17862/BTC-TCT ngày 09/12/2014, Bộ Tài chính đã từng có hướng dẫn nguyên tắc không thu thuế nhà thầu đối với khoản hoàn chi phí tiền lương nếu (i) khoản thanh toán của công ty con tại Việt Nam cho công ty mẹ tại nước ngoài chỉ đơn thuần là việc bồi hoàn lại toàn bộ tiền lương và các chi phí thực phát sinh mà công ty nước ngoài đã trả hộ công ty Việt Nam cho các chuyên gia biệt phái sang làm việc tại Việt Nam và (ii) các chuyên gia biệt phái đã kê khai và nộp đầy đủ thuế thu nhập cá nhân (“TNCN”) cho thu nhập toàn cầu tại Việt Nam.

           Đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, xem xét và có hướng dẫn về việc không thu thuế nhà thầu đối với khoản bồi hoàn chi phí tiền lương của nhân viên phái cử từ công ty mẹ theo hình thức di chuyển nội bộ để tránh việc các cơ quan thuế địa phương áp dụng các quan điểm truy thu không nhất quán.

          Nội dung trả lời:

          Tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 6/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam quy định:

          “Điều 1. Đối tượng áp dụng

          Hướng dẫn tại Thông tư này áp dụng đối với các đối tượng sau (trừ trường hợp nêu tại Điều 2 Chương I):

          1.Tổ chức nước ngoài kinh doanh có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài) kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thoả thuận, hoặc cam kết giữa Nhà thầu nước ngoài với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc giữa Nhà thầu nước ngoài với Nhà thầu phụ nước ngoài để thực hiện một phần công việc của Hợp đồng nhà thầu.

          Trên cơ sở nguyên tắc đã được Bộ Tài chính hướng dẫn tại công văn số 17862/BTC-TCT ngày 09/12/2014, cụ thể nếu đáp ứng các điều kiện sau thì khoản thu hộ-chi hộ tiền lương của Công ty mẹ ở nước ngoài không thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư số 103/2014/TT-BTC nêu trên:

          – Khoản thanh toán cho công ty con tại Việt Nam cho công ty mẹ tại nước ngoài chỉ đơn thuần là việc bồi hoàn lại toàn bộ tiền lương và các chi phí thực phát sinh mà công ty nước ngoài đã trả hộ công ty Việt Nam cho các chuyên gia biệt phái sang làm việc tại Việt Nam.

          – Các chuyên gia biệt phái đã kê khai và nộp đầy đủ thuế TNCN cho thu nhập toàn cầu tại Việt Nam.

          Đề nghị doanh nghiệp liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp kèm theo hồ sơ cụ thể để được hướng dẫn thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

          6. Kiến nghị số 43

          Theo quy định, trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Từ năm thứ hai, kỳ tính thuế căn cứ theo năm dương lịch.

          Quy định về việc quyết toán thuế cho giai đoạn 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên đến Việt Nam đã bộc lộ những bất cập trên thực tế như sau:

          * Việc xác định “ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam” của cá nhân có thể không nhất quán trong nhiều trường hợp, ví dụ:

          – Trước khi bắt đầu thời gian bổ nhiệm chính thức tại Việt Nam, nếu cá nhân đã đến Việt Nam cho mục đích cá nhân, không liên quan đến công việc thì những ngày này có bị coi là ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam hay không.

          – Nếu cá nhân đã hoàn thành nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam sau đó quay lại Việt Nam công tác trong cùng năm hoặc trong các năm sau thì ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam được xác định như thế nào.

          * Khi xác định số thuế TNCN còn phải nộp của năm tính thuế thứ hai, theo quy định, số thuế được trừ của giai đoạn trùng giữa hai năm tính thuế là số thuế phân bổ trung bình của năm tính thuế thứ nhất, thay vì số thuế thực tế đã nộp cho giai đoạn trùng. Do vậy, trong trường hợp cá nhân có biến động thu nhập giữa các tháng lớn, có khả năng số thuế phân bổ trung bình của năm tính thuế thứ nhất sẽ khác với số thuế thực tế đã nộp cho giai đoạn trùng, dẫn đến việc phát sinh số thuế nộp thừa hoặc nộp thiếu của năm tính thuế thứ hai, kể cả khi thuế TNCN hàng tháng đã được tính toán và nộp đủ.

          * Trong trường hợp cá nhân là cá nhân cư trú trong giai đoạn 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên đến Việt Nam nhưng là cá nhân không cư trú của năm tính thuế thứ 2, việc xác định nghĩa vụ thuế của năm tính thuế thứ 2 chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến nhiều bất cập. Ví dụ: cá nhân lần đầu đến Việt Nam vào 10/05/2018 và lần cuối rời Việt Nam ngày 20/06/2019. Cá nhân có mặt tại Việt Nam trên 183 ngày trong giai đoạn từ 10/05/2018 đến 09/05/2019 và có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong giai đoạn từ 01/01/2019 đến 20/06/2019. Theo đó, cá nhân là cá nhân cư trú trong năm tính thuế từ 10/05/2018 đến 09/05/2019 và là cá nhân không cư trú trong năm tính thuế từ 01/01/2019 đến 20/06/2019. Như vậy, cuối cùng, cá nhân sẽ được coi là cá nhân cư trú hay không cư trú cho giai đoạn từ 01/01/2019 đến 09/05/2019 và việc kê khai thuế cho giai đoạn này sẽ như thế nào?

          Phần mềm hỗ trợ kê khai (HTKK) đang chỉ hỗ trợ xác định năm tính thuế theo chẵn tháng (tức từ ngày đầu tháng đến ngày cuối tháng) trong khi năm tính thuế theo 12 tháng liên tục có thể là lẻ tháng. Do đó, thời hạn kê khai thuế theo năm tính thuế đúng và thời hạn kê khai thuế được xác định trên phần mềm quản lý thuế có thể khác nhau, dẫn đến khó khăn và mất thời gian cho cơ quan thuế và người nộp thuế trong việc đối chiếu và tính toán lãi phạt chậm nộp tiền thuế (nếu có). Trên thế giới và trong khu vực, có nhiều quốc gia chỉ áp dụng năm tính thuế theo năm dương lịch, không áp dụng năm tính thuế 12 tháng liên tục, ví dụ: Lào, Myanmar, Malaysia, Singapore, Philippines, Thái Lan, Hàn Quốc). Do đó, cá nhân là công dân của các nước này sẽ gặp khó khăn trong việc xin cấp xác nhận cá nhân cư trú thuế và khấu trừ thuế đã nộp tại nước ngoài do năm tính thuế không tương đồng.

          Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu kính đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, xem xét bỏ việc xác định kỳ tính thuế 12 tháng liên tục để đơn giản hoá thủ tục hành chính thuế, tránh việc phát sinh các cách hiểu thiếu nhất quán về quy định thuế cũng như để phù hợp với thông lệ quốc tế.

          Nội dung trả lời:

          – Về việc Luật thuế TNCN tại Việt Nam quy định 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên đến Việt Nam:

          Khi xây dựng Luật thuế TNCN , Bộ Tài chính đã cân nhắc việc lựa chọn giữa việc tính thuế TNCN theo năm dương lịch ngay từ năm đầu tiên , hay tính 12 tháng liên tục kể từ năm đầu tiên. Xuất phát từ việc có những người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong một thời gian rất ngắn, thời gian ngắn đó có thể đan xen giữa 2 năm. Do đó, nếu không tính 12 tháng liên tục trong thời gian đầu tiên này thì người nộp thuế trong trường hợp ở tại Việt Nam trong khoảng thời gian giữa 2 năm sẽ tách ra làm 2 năm dương lịch để quyết toán. Vì vậy, để cắt giảm thủ tục hành chính và đơn giản hoá việc xác định thu nhập chịu thuế nên Bộ Tài chính đã xây dựng quy định về kỳ tính thuế 12 tháng liên tục. Đối với trường hợp cá nhân ở Việt Nam hơn 12 tháng liên tục thì sẽ phát sinh số thuế bị tính trùng một số tháng khi quyết toán thuế của năm sau. Tuy nhiên, về vấn đề này đã có hướng dẫn để xác định số thuế trùng để trừ khi quyết toán thuế năm sau theo nguyên tắc thuế bình quân tháng của năm tính thuế. Do đó, giữa 2 phương án thì phương án tính theo 12 tháng liên tục ở năm đầu tiên đảm bảo đơn giản cho người nộp thuế.

          – Về vướng mắc xác định “ngày đầu tiên ở Việt Nam” như thế nào:

          “Ngày đầu tiên” ở đây không phải ngày đầu tiên trong đời của cá nhân đó mà là “ngày đầu tiên” trong một giai đoạn làm việc, một hợp đồng làm việc. Một cá nhân có thể đến Việt Nam làm nhiều lần, theo nhiều hợp đồng khác nhau, theo nhiều chương trình làm việc khác nhau. “Ngày đầu tiên” ở đây là ngày đầu tiên trong chương trình làm việc đó.

          – Về việc xác định nghĩa vụ thuế của năm tính thuế thứ hai trong trường hợp cá nhân làm việc trong khoảng thời gian giữa 2 năm. Về nguyên tắc khi một cá nhân đến Việt Nam ngày đầu tiên trong hợp đồng làm việc, thì ngày đầu tiên đó căn cứ theo hợp đồng làm việc. Nếu hợp đồng có thời hạn làm việc trên 183 ngày thì xác định luôn cá nhân đó là cá nhân cư trú. Đến năm tính thuế thứ hai, kể cả trường hợp làm việc chỉ 3 tháng thì việc kê khai, nộp thuế vẫn phải tính liên tục theo cá nhân cư trú. Nếu ở năm tính thuế thứ hai, cá nhân về nước ngay sau khi kết thúc hợp đồng và không quay lại Việt Nam nữa thì sẽ xác định lại tình trạng cư trú của cá nhân đó. Trường hợp cá nhân hiện diện tại Việt Nam dưới 183 ngày thì sẽ xác định lại tình trạng cư trú và được xác định là đối tượng không cư trú. Tuy nhiên, việc xác định lại thân phận cư trú này sẽ phải xác định tại thời điểm cuối năm dương lịch đó, còn tại thời điểm cá nhân về nước thì không thể xác định được cư trú hay không cư trú trong năm tính thuế dương lịch. Đồng thời , do theo hợp đồng ban đầu đã kéo dài trên 183 ngày nên cá nhân đó vẫn tiếp tục nộp thuế theo cá nhân cư trú.

          – Về phản ánh ứng dụng khai thuế đang tính theo tháng, khó khăn trong việc tính phạt nộp chậm của cơ quan thuế.

          Trong việc tính phạt nộp chậm của cơ quan thuế, thời hạn sẽ tính theo tháng , trường hợp nếu phát sinh thuế TNCN từ ngày đầu, ngày 15 hay ngày 30 tháng đó thì thời hạn khai thuế vẫn là thời hạn khai thuế của tháng đó. Khi tính xử phạt thì tính theo thời hạn khai thuế của tháng chứ không tính theo thời hạn phát sinh thu nhập.

          – Về phản ánh trên thế giới và trong khu vực, có nhiều quốc gia chỉ áp dụng năm tính thuế theo năm dương lịch, ví dụ: Lào, Myanmar, Malaysia, Singapore, Philippines, Thái Lan, Hàn Quốc . Do đó, cá nhân là công dân của các nước này sẽ gặp khó khăn trong việc xin cấp xác nhận cá nhân cư trú thuế và khấu trừ thuế đã nộp tại nước ngoài do năm tính thuế không tương đồng.

          Quy định về kỳ tính thuế 12 tháng liên tục nhằm mục đích cắt giảm thủ tục hành chính, trường hợp VBF cung cấp thêm kinh nghiệm các nước mà quy định như trên với một lý do hợp lý và để có lợi hơn cho người nộp thuế, Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản pháp luật cho phù hợp.

          Với các quốc gia đã ký hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với Việt Nam thì ưu tiên thực hiện theo Hiệp định nếu không làm tăng nghĩa vụ thuế của cá nhân so với nội luật. Đối với việc khấu trừ thuế đã nộp tại một quốc gia thì đã có quy định rõ ràng trong Hiệp định về việc quốc gia nào có trách nhiệm phải khấu trừ thuế đã nộp để tránh việc đánh thuế hai lần.

          7. Kiến nghị số 44

          Theo quy định hiện hành, có thể hiểu rằng, người nước ngoài có nghĩa vụ kê khai thuế TNCN tại Việt Nam trên phần thu nhập được cho là thu nhập phát sinh tại Việt Nam nhưng nhận được từ nước ngoài trong trường hợp cá nhân nước ngoài sang Việt Nam công tác, kể cả chỉ 01 ngày. Quy định này gần như không có nhiều ý nghĩa về mặt thực tế và khiến cá nhân không thể tuân thủ, đặc biệt trong trường hợp cá nhân chỉ sang làm việc ở Việt Nam vài ngày.

          Trên thế giới, nhiều quốc gia đã quy định một số trường hợp mà cá nhân nước ngoài được miễn trừ nghĩa vụ kê khai thuế TNCN, nếu có mặt hoặc có thu nhập phát sinh tại nước đó dưới ngưỡng quy định, ví dụ:

          – Hoa Kỳ: có mặt tại Mỹ không quá 90 ngày/năm tính thuế hoặc có thu nhập phát sinh tại Mỹ không quá 3.000 Đô la Mỹ/năm

          – Ấn Độ: có mặt tại Ấn Độ không quá 90 ngày/năm

          – Malaysia, Singapore: có mặt tại các nước này không quá 60 ngày/năm

          Ngoài ra, luật lao động cũng có quy định về việc miễn giấy phép lao động cho người nước ngoài sang Việt Nam làm việc dưới 30 ngày/lần hoặc không quá 90 ngày/năm.

          Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu  kính đề nghị Bộ Tài chính xem xét và cân nhắc đưa ra quy định về việc cá nhân nước ngoài sang công tác ngắn ngày tại Việt Nam không phải kê khai thuế TNCN tại Việt Nam trên phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam nhưng nhận tại nước ngoài nếu thỏa mãn một số điều kiện về số ngày có mặt tại Việt Nam để phù hợp với thông lệ quốc tế, thống nhất giữa quy định thuế và lao động, cũng như tạo điều kiện để việc tuân thủ quy định thuế trở nên khả thi với người nộp thuế.

          Nội dung trả lời:

          Luật thuế TNCN của Việt Nam xây dựng hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt là các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Đồng thời Luật thuế TNCN cũng đảm bảo các quy định về thuế chung như đánh thuế TNCN tại Việt Nam theo tình trạng cư trú, chứ không theo số ngày tại Việt Nam. Trường hợp chỉ căn cứ theo số ngày có mặt tại Việt Nam mà không đánh thuế đối với những khoản thu nhập lớn phát sinh tại Việt Nam thì không phù hợp với nguyên tắc tại các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và thông lệ quốc tế.

          8. Kiến nghị số 45

          Hiện tại, thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam phải tạm nộp theo quý, và nếu tổng số tiền dự kiến nộp hàng quý nhỏ hơn 80% số thuế doanh nghiệp sau khi quyết toán thì sẽ bị áp dụng phạt thuế chậm nộp đối với số tiền chưa nộp.

          Tuy nhiên, do ngày đến hạn thanh toán trong quý 4 là vào cuối tháng 1 năm sau, nên cuối cùng công ty phải quyết toán chậm nhất vào cuối tháng 1 để tính số thuế doanh nghiệp phải nộp cuối cùng và tính 80% cho phù hợp.

          Do đó, thời hạn quyết toán đến cuối tháng 3 theo luật trên thực tế không được áp dụng và doanh nghiệp phải quyết toán trước tháng 1 để tránh nộp thuế phạt bổ sung nên phát sinh rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp.

          Đề xuất cần cải thiện sửa đổi ví dụ như đối với khoản tạm nộp hàng quý, khi nộp số tiền được điều chỉnh hợp lý được tính toán theo kết quả kinh doanh hàng quý của năm hiện tại lấy tiêu chuẩn là 1/4 số thuế doanh nghiệp đã nộp trong năm trước thì sẽ không phải nộp khoản thuế phạt chậm nộp, v..v.

          Nội dung trả lời:

          Bộ Tài chính đang nghiên cứu để ban hành Thông tư quy định chi tiết Luật Quản lý thuế, trong đó sẽ xem xét hướng dẫn thực hiện quy định tạm nộp thuế TNDN theo quý cho phù hợp với thực tế và quy định của Luật Quản lý thuế.

          9. Kiến nghị số 46

          Trong kinh doanh và xuất khẩu cà phê, chính sách thuế này khuyến khích các công ty bán cà phê giao ngay cho các công ty nước ngoài, trong khi thị trường cà phê kỳ hạn vẫn có thể bù đắp chi phí lãi vay khi giữ cà phê ở Việt Nam khi thị trường đang có cấu trúc ‘contango’ (giá tương lai của hàng hóa cao hơn giá giao ngay được dự kiến trong tương lai).

          Điều đó nghĩa là doanh nghiệp xuất khẩu bỏ lỡ lợi nhuận từ giao dịch vì lợi nhuận được ghi nhận bởi đơn vị nước ngoài nơi đặt sổ kinh doanh. 

          Ngoài ra, các công ty thương mại Anh không thể giao dịch với đối tác liên doanh địa phương cũng là doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, vì sau đó họ sẽ phải chịu trách nhiệm về thuế này. Trước khi áp dụng thuế này, các công ty thương mại Anh đã thường xuyên giao dịch với đối tác liên doanh bất cứ khi nào doanh nghiệp có cà phê với phẩm chất đặc biệt mà họ cần.

          Britcham Việt Nam kiến nghị về việc hủy mức trần về chi phí lãi vay cho cà phê và các lĩnh vực kinh doanh hàng hóa khác. Quy định được đưa ra với ý định tốt nhưng không thực tế trong thực tiễn, hoặc tối thiểu trong ngành kinh doanh cà phê.

          Nội dung trả lời:

        Tại điểm b khoản 3 Điều 16 Nghị định 132/2020/NĐ-CP thay thế cho Nghị định số 20/2017/NĐ-CP đã sửa đổi quy định về lãi cho vay để tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp nói chung, cụ thể:

          “a) Tổngchi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vayphát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế.

          b) Phần chi phí lãi vay không được trừ theo quy định tại điểm a khoản này được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức quy định tại điểm a khoản này. Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá năm (05) năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ.”.

          Quy định khống chế chi phí lãi vay được trừ đối với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết đã được Việt Nam tham khảo hành động số 4 của BEPS để chống xói mòn nguồn thu, chống chuyển lợi nhuận, chống chuyển giá, phù hợp với thông lệ quốc tế chung và hướng dẫn của OECD tại Nghị định số 132/2020/NĐ-CP về giá chuyển nhượng (mà Chính phủ Liên hiệp Anh là một thành viên của OECD). Theo đó, đề nghị doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.

          10. Kiến nghị số 47

          Theo quy định hiện hành của Việt Nam, đối tượng nộp báo cáo chuyển giá là những doanh nghiệp có doanh thu hàng năm khoảng 2,24 triệu đô la Mỹ (50 tỷ đồng) trở lên và giao dịch với các bên liên quan là 1,35 triệu đô la (30 tỷ đồng).

          Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm phần lớn trong số các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, là đối tượng phải nộp báo cáo và việc đáp ứng được quy định này là một gánh nặng rất lớn cho các doanh nghiệp.

        Ngoài ra, nếu cơ quan thuế Việt Nam kiểm tra thuế giá chuyển nhượng và bị đánh thuế bổ sung thì sẽ phát sinh vấn đề doanh nghiệp bị đánh thuế hai lần do tập đoàn mẹ Hàn Quốc cũng phải nộp thuế tại Hàn Quốc, và hiện nay không có phương tiện hay cách thức nào để có thể đưa ra kiến nghị sửa đổi.

        Tất nhiên, các quy định pháp luật có cơ sở để đưa ra kiến nghị, nhưng thực tế không dễ để các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện thủ tục này do vấn đề về chi phí và thời gian.

          Đề xuất cần tăng đáng kể các điều kiện áp dụng chứng từ giá chuyển nhượng, và thứ hai, thành lập Uỷ ban kiểm tra đặc biệt về giá chuyển nhượng (có sự tham gia của các chuyên gia cơ quan thuế và các công ty thuộc lĩnh vực tư nhân như công ty kế toán v..v) có thể tiếp nhận và xử lý các kiến nghị về việc đánh thuế giá chuyển nhượng để giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể nhận được sự hỗ trợ và ưu đãi thoả đáng.

          Nội dung trả lời:

          – Về đề xuất cần tăng đáng kể các điều kiện áp dụng chứng từ giá chuyển nhượng để giúp các DN vừa và nhỏ có thể nhận được sự hỗ trợ và ưu đãi thỏa đáng:

          Theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 19 các trường hợp người nộp thuế được miễn kê khai, miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết tại Nghị định 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 thì ngoài việc các DN vừa và nhỏ có phát sinh giao dịch liên kết nhưng tổng doanh thu phát sinh của kỳ tính thuế dưới 50 tỷ đồng và tổng giá trị tất cả các giao dịch liên kết phát sinh trong kỳ tính thuế dưới 30 tỷ đồng thì đối tượng được áp dụng tại điều này còn có các trường hợp khác như:

          + Trường hợp chỉ phát sinh giao dịch với các bên liên kết là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam, áp dụng cùng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp với người nộp thuế và không bên nào được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ tính thuế.

          + Người nộp thuế đã ký kết Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế thực hiện nộp Báo cáo thường niên theo quy định pháp luật về Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế. Các giao dịch liên kết không thuộc phạm vi áp dụng Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế, người nộp thuế có trách nhiệm kê khai xác định giá giao dịch liên kết theo quy định tại Điều 18 Nghị định này.

          + Người nộp thuế thực hiện kinh doanh với chức năng đơn giản, không phát sinh doanh thu, chi phí từ hoạt động khai thác, sử dụng tài sản vô hình, có doanh thu dưới 200 tỷ đồng, áp dụng tỷ suất lợi nhuận thuần chưa trừ chi phí lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp (không bao gồm chênh lệch doanh thu và chi phí của hoạt động tài chính) trên doanh thu thuần, bao gồm các lĩnh vực như sau:

          Phân phối: Từ 5% trở lên;

          Sản xuất: Từ 10% trở lên;

          Gia công: Từ 15% trở lên.

          Như vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn đầu tư nước ngoài khi có đủ điều kiện nêu trên cũng được miễn kê khai, miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết tùy theo từng trường hợp.

          Đồng thời, quy định nêu trên cũng áp dụng cho cả DN vừa và nhỏ trong nước.

          – Đề xuất thành lập Ủy ban kiểm tra đặc biệt về giá chuyển nhượng (có sự tham gia của các chuyên gia cơ quan thuế và các công ty thuộc lĩnh vực tư nhân như công ty kế toán …) có thể tiếp nhận và xử lý các kiến nghị về việc đánh thuế giá chuyển nhượng để giúp các DN vừa và nhỏ có thể nhận được sự hỗ trợ và ưu đãi thỏa đáng: Điều 20 Nghị định 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của Cơ quan thuế trong quản lý giá giao dịch liên kết nên việc tiếp nhận và xử lý các kiến nghị về việc đánh thuế giá chuyển nhượng được Chính phủ giao cho cơ quan Thuế thực hiện. Đồng thời cơ quan Thuế được áp dụng quản lý rủi ro trong việc lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp có quan hệ liên kết và giao dịch liên kết; Trường hợp trong quản lý thuế đối với giao dịch liên kết có phát sinh vướng mắc về cơ chế, chính sách liên quan đến các ngành, lĩnh vực chuyên ngành, Cơ quan thuế lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Vì vậy, việc thành lập Ủy ban kiểm tra đặc biệt về giá chuyển nhượng là không cần thiết và không phù hợp với quy định hiện hành.

          11. Kiến nghị số 48

          Hiện tại: Thủ tục kiểm tra hải quan đối với việc xả chất thải định kỳ là 6 tháng hoặc 1 năm. Vấn đề: Xảy ra bất hợp lý, cần phải để phế thải công nghiệp trong nhà máy lâu ngày để hải quan kiểm tra

          Đề xuất cải thiện bằng cách kiểm tra hải quan hàng tháng sau đó thực hiện xử lý đốt chất thải công nghiệp.

          Nội dung trả lời:

          Theo quy định của pháp luật về Bảo vệ môi trường thì cơ quan hải quan không thực hiện kiểm tra việc xả chất thải của doanh nghiệp. Nội dung này thuộc cơ quan chức năng quản lý nhà nước về môi trường là Sở TNMT hoặc Bộ TNMT. Do vậy, đề nghị Hiệp hội làm việc với cơ quan chuyên ngành này để được xem xét hướng dẫn.

          12. Kiến nghị số 49 và số 60

          * Kiến nghị số 49: 

          Hiện tại: Phải nộp thuế hải quan khi nhập khẩu phụ tùng xe nâng để bán trong nước (Tối thiểu 5% ~ Tối đa 25% / Trung bình 15%). Tuy nhiên, khi nhập khẩu và bán xe nâng thành phẩm được miễn thuế / có sự phân biệt đối với các nhà sản xuất trong nước.

          Có giảm thuế đối với các bộ phận nhập khẩu để sản xuất xe nâng. Mở rộng phạm vi áp dụng các bộ phận dung cho sản xuất xe nâng ( Mã HS8431.20) hoặc mở rộng việc áp dụng miễn thuế suất 0% đối với các bộ phận chung cho sản xuất xe nâng. Cần có các tiêu chuẩn quản lý một cách có hệ thống đối với xe nâng nhập khẩu

          – Áp thuế nhập khẩu xe nâng đã hoàn thành: Hiện tại 0% / Áp dụng trong tương lai (trên 30%)

          – Bao gồm phê duyệt hình thức Việt Nam cho xe nâng nhập khẩu (đã qua sử dụng và mới)

          * Kiến nghị số 60:

          Trong những năm gần đây, việc phát triển các ngành công nghiệp, điện tử, cơ khí luôn được tối ưu tiên và khuyến khích trong chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước Việt Nam, Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay, thuế suất thuế nhập khẩu của nhiều linh kiện, thiết bị rời lại cao hơn thuế suất của thiết bị máy móc hoàn chỉnh, và do đó không có tính chất hỗ trợ phát triển sản xuất, lắp ráp trong nước. Ví dụ: Clark Material Handling Việt Nam là công ty sản xuất và kinh doanh xe nâng và logistics, được thành lập vào tháng 8 năm 2018 và vận hành 3 nhà máy tại tỉnh Hải Dương với công suất sản xuất 3.000 chiếc/năm. Xe nâng thành phẩm nhập khẩu có thuế suất 0%, trong khi các bộ phận của xe nâng (ác quy điện, ghế ngồi cho xe có động cơ, cụm trục, v.v) không thuộc nhóm mã HS 8431.20 có thuế suất từ 5-25%

          Để thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất, lắp ráp cơ khí tại Việt Nam, kiến nghị Quốc hội cũng như rà soát lại biểu thuế suất thuế nhập khẩu với phụ tùng, linh kiện cơ khí và cần có chính sách khuyến khích cũng như ưu đãi đối với ngành nghề này.

          Theo Nhóm công tác Thuế & Hải quan được biết, Tổng cục Hải quan đã xử lý cho trường hợp tương tự bằng cách cho phép doanh nghiệp nộp toàn bộ danh sach linh kiện nhập khẩu phục vụ sản xuất, lắp ráp để rà soát và xử lý hoàn thuế sau khi hoàn tất (tương tự như với chương tình ưu đãi với linh kiện ô tô theo Nghị định 125/2017/NĐ-CP). Nếu chưa thể sửa đổi biểu thuế, rất mong Chính phủ và Tổng cục Hải quan có thể quy định hóa, mở rộng ưu đãi như với hoạt động nhập khẩu linh kiện, phụ tùng để lắp ráp/sản xuất ô tô cho các ngành công nghiệp sản xuất/lắp ráp máy móc thiết bị khác.

          Nội dung trả lời:

          Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi của các mặt hàng linh kiện, phụ tùng, thiết bị, máy móc nguyên chiếc tại Nghị định số 57/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và Nghị định số 125/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP và các Nghị định của Chính phủ ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt được quy định trên cơ sở các nguyên tắc tại Điều 10 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13. Theo đó, thiết bị, linh kiện, phụ tùng trong nước chưa sản xuất được thì quy định mức thuế suất thấp, cơ bản là 0%. Đối với những thiết bị, linh kiện, phụ tùng trong nước đã sản xuất được hoặc chưa sản xuất được nhưng có định hướng khuyến khích đầu tư được quy định mức thuế suất phù hợp nhằm bảo hộ, khuyến khích các doanh nghiệp  đầu tư sản xuất được các mặt hàng này. Nhìn chung, thuế suất của bộ phận, linh kiện, phụ tùng, thiết bị được quy định mức thuế suất thấp hơn hoặc bằng sản phẩm nguyên chiếc.

          Đối với trường hợp của Công ty TNHH Clark Material Handling Việt Nam: Theo quy định tại Nghị định số 57/2020/NĐ-CP, bộ phận chỉ sử dụng hoặc chủ yếu sử dụng cho xe nâng (phân nhóm 8431.2x) có thuế nhập khẩu ưu đãi là 0%. Đối với một số linh kiện, phụ tùng để sản xuất, lắp ráp xe nâng có mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi từ 5%-25% do đây là các mặt hàng trong nước đã sản xuất được (ví dụ, ghế, màn hình hiển thị, ắc quy, hộp số…), hoặc thuộc danh mục sản phẩm công nghiệp ưu tiên phát triển theo định hướng của Chính phủ (ví dụ, ắc quy, hộp số…).  Mặt khác, các mặt hàng này không chỉ dùng để sản xuất, lắp ráp xe nâng mà còn sử dụng trong nhiều mặt hàng khác như ô tô, cơ khí….Thị trường nhập khẩu của các mặt hàng này chủ yếu từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước ASEAN, trong khi đó thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo cam kết tại các Hiệp định FTA từ các nước/khối nước này hiện nay đã cắt giảm về bằng 0% hoặc mức thấp. Theo đó, đề nghị các doanh nghiệp thực hiện theo quy định hiện hành và tìm kiếm các thị trường nhập khẩu mặt hàng từ các nước/khu vực đã có ký kết về Hiệp định thương mại với Việt Nam để được hưởng mức thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt đối với mặt hàng nêu trên.

          Đối với kiến nghị mở rộng ưu đãi cho linh kiện phụ tùng nhập khẩu để sản xuất sản phẩm cơ khí tương tự như Chương trình ưu đãi thuế linh kiện ô tô, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục tổng kết, nghiên cứu trong giai đoạn tới.

          13. Kiến nghị số 50

          Theo Chính sách hiện hành, các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ được nhận ưu đãi về thuế bằng cách nộp đơn xin cho Cơ quan có thẩm quyền để đăng ký đầu tư dự án từ 6 nghìn tỷ VNĐ trở lên trong 3 năm. Đầu tiên họ sẽ đầu tư vào dự án có quy mô vừa và nhỏ, sau đó mới đưa ra quyết định chuyển sang đầu tư quy mô lớn dựa trên đánh giá thực tế phản ứng thị trường dựa trên khoản đầu tư ban đầu. Bởi vậy, chúng tôi tin tưởng rằng nếu chính phủ cho phép doanh nghiệp được chứng nhận đầu tư quy mô lớn tính theo lũy kế thì Việt Nam sẽ có thêm nhiều dự án lớn hơn 6 nghìn tỷ đồng hơn nữa

          Đề xuất Chính phủ Việt Nam sẽ cho phép áp dụng Chính sách ưu đãi thuế đối với trường hợp doanh nghiệp thực hiện đầu tư từ 6 nghìn tỷ VNĐ trở lên tính theo lũy kế bao gồm cả số tiền đầu tư tăng thêm sau khi đã đăng ký dự án đầu tư, hoặc sau khi đã thực hiện đầu tư cho cùng lĩnh vực trong thời gian trước đây.

          Nội dung trả lời:

          Theo quy định tại khoản 7, khoản 8 Điều 1 Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 thì “Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất (trừ dự án sản xuất mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, dự án khai thác khoáng sản) đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

          – Dự án có quy mô vốn đầu tư tối thiểu sáu nghìn tỷ đồng, thực hiện giải ngân không quá ba năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và có tổng doanh thu tối thiểu đạt mười nghìn tỷ đồng/năm, chậm nhất sau ba năm kể từ năm có doanh thu;

          – Dự án có quy mô vốn đầu tư tối thiểu sáu nghìn tỷ đồng, thực hiện giải ngân không quá ba năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và sử dụng trên ba nghìn lao động” được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn thuế 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.

          Căn cứ vào quy định nêu trên thì ưu đãi thuế TNDN đối với dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 6 nghìn tỷ VNĐ trở lên là áp dụng đối với dự án đầu tư mới. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mở rộng để tăng quy mô đầu tư của dự án đang hoạt động nhằm nâng tổng quy mô đầu tư của cả 2 dự án lên mức hơn 6 nghìn tỷ đồng thì không thuộc trường hợp dự án đầu tư mới hưởng ưu đãi thuế theo quy định nêu trên. Bộ Tài chính đề nghị thực hiện theo quy định của Luật thuế TNDN hiện hành.

          14. Kiến nghị số 51

          Sau khi Nghị định 82/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, đã có một số trường hợp doanh nghiệp không được cấp giấy phép EPE cho đến khi nhà máy được xây dựng xong, và phải chịu các loại thuế phí liên quan đến việc lấy đất, xây dựng nhà xưởng và nhập khẩu thiết bị mà những loại thuế này đáng lẽ ra được miễn. Đây là gánh nặng trong quá trình hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam

          Mong muốn khi thực hiện cấp giấy phép EPE, chính phủ Việt nam quy định rõ trong văn bản sẽ miễn một phần chi phí liên quan đến việc lấy đất, xây dựng nhà xưởng, nhập khẩu thiết bị mà doanh nghiệp đã trả trước khi được cấp giấy phép. Hơn nữa, Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản đặc biệt rất mong chính phủ sẽ cấp giấy phép EPE cùng lúc khi xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư như trước đây.

          Nội dung trả lời:

          Tại Điều 28a Nghị định số 18/2021/NĐ-CP ngày 11/3/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/4/2021, đã sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan và áp dụng chính sách thuế đối với doanh nghiệp chế xuất (DNCX) là khu phi thuế quan để đảm bảo tính đồng bộ giữa pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật đầu tư. Theo đó đề nghị thực hiện theo quy định tại Nghị định số 18/2021/NĐ-CP.

          15. Kiến nghị số 52

          Cho đến hiện tại, đã có nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam nhờ những Chính sách ưu đãi do Chính phủ Việt Nam ban hành. Việc thiết lập các chính sách ưu đãi tốt hơn nữa là chìa khóa quan trọng giúp thu hút toàn bộ chuỗi cung ứng bao gồm cả các ngành công nghiệp phụ trợ của các công ty Nhật bản thường sẽ có nhiều công ty hợp tác xung quanh một công ty lớn. Giữa công ty lớn và các công ty hợp tác có phân chia vai trò phức tạp và chặt chẽ liên quan đến hoạt động sản xuất. Chúng tôi cho rằng việc thu hút không chỉ các doanh nghiệp lớn mà cả các công ty hợp tác của doanh nghiệp đó, nghĩa là thu hút cả một chuỗi hệ thống sản xuất sẽ tạo ra nhiều lợi thế hơn cho Việt Nam. Bằng cách đó, không chỉ các công ty lớn đầu tư vào Việt Nam, mà còn thu hút và tạo điều kiện cho các công ty hợp tác của công ty lớn đó cũng có thể đầu tư vào Việt Nam

          Mong muốn chính phủ Việt Nam cho phép áp dụng Chính sách ưu đãi thuế doanh nghiệp đối với từng công ty thông qua việc xem xét từng dự án của công ty đó có đủ điều kiện nhận ưu đãi thuế hay không. Tuy nhiên, trong trường hợp thỏa mãn điều kiện là khoản đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, hoặc số tiền đầu tư vượt quá một hạn mức nhất định thì rất mong chính phủ phê duyệt ưu đãi thuế cho toàn bộ công ty trong chuỗi cung ứng đó.

          Nội dung trả lời:

          Chính sách ưu đãi thuế TNDN được thực hiện theo quy định của Luật thuế TNDN do Quốc hội ban hành.

          Kể từ năm 2014, chính sách ưu đãi thuế TNDN đã được áp dụng đối với đối tượng là dự án đầu tư của doanh nghiệp (thay vì xét theo pháp nhân như trước năm 2014) thuộc lĩnh vực ưu đãi thuế TNDN (trong đó bao gồm lĩnh vực công nghệ cao, dự án đầu tư có quy mô vốn lớn (tối thiểu 6 nghìn tỷ đồng hoặc 12 nghìn tỷ đồng đáp ứng điều kiện về giải ngân vốn, về công nghệ) hoặc thực hiện tại địa bàn ưu đãi đầu tư theo pháp luật về đầu tư (địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao, Khu công nghiệp). Đồng thời, Luật thuế TNDN cũng đã có quy định rõ việc ưu đãi thuế TNDN đối với dự án đầu tư mới và đầu tư mở rộng (mức ưu đãi, điều kiện ưu đãi).

          Do đó, đề nghị DN căn cứ quy định của Luật thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn để thực hiện cho phù hợp.

          16. Kiến nghị số 53

          Khi doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (ví dụ doanh nghiệp sản xuất ô tô) đầu tư thiết bị cho nhà máy sản xuất, họ rơi vào tình trạng rất khó đầu tư vốn cho dây chuyền sản xuất sản phẩm dành cho thị trường nội địa vì thị trường nội địa Việt Nam chưa phát triển đến quy mô giúp doanh nghiệp có thể thu hồi khoản vốn đầu tư này.

          Trong việc thu hút đầu tư cho ngành công nghiệp sản xuất, chúng tôi thấy ngành công nghiệp vật liệu (như kim loại và nhựa chất lượng cao) chưa phát triển ở Việt Nam. Hơn nữa, cho dù doanh nghiệp Nhật Bản đã phát triển được mạng lưới nhà cung cấp tại Việt Nam đi nữa thì khi đạt đến một mức độ nhất định, các nhà cung cấp này sẽ ngừng chuyển hướng kinh doanh với các quốc gia khác thay vì tiếp tục hợp tác với doanh nghiệp Nhật Bản. Kết quả tất yếu là sự phụ thuộc vào vật liệu nhập khẩu sẽ ngày càng tăng, khiến ngành công nghiệp vật liệu có giá trị gia tăng và chất lượng cao tại Việt Nam khó có thể phát triển được

          Cho đến khi thị trường trong nước phát triển, Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản mong muốn chính phủ xem xét việc áp dụng biện pháp hỗ trợ tài chính và ưu đãi thuế đối với hoạt động đầu tư vốn vào trang thiết bị như khuôn mẫu và đồ gá, nhằm thúc đầy đầu tư từ các hãng sản xuất ô tô.

          Để thu hút doanh nghiệp Nhật Bản sản xuất các sản phẩm tiên tiến, cao cấp và phát triển mạng lưới nhà cung cấp có thể sản xuất vật liệu có giá trị gia tăng và chất lượng cao tại Việt Nam, chúng tôi mong rằng chính phủ Việt Nam xem xét áp dụng các Chính sách khuyến khích, chẳng hạn như ưu đãi thuế cho nhà cung cấp và các doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng, phát triển mạng lưới nhà cung cấp sản xuất các vật liệu có giá trị gia tăng và chất lượng cao.

          Nội dung trả lời:

          Hệ thống pháp luật thuế hiện hành đã có quy định về các chính sách ưu đãi thuế nhằm khuyến khích các dự án đầu tư sản xuất vật liệu composite, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm và dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (trong đó có các sản phẩm khuôn mẫu, đồ lắp ráp) thuộc danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển theo quy định của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ (là ngành nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ), cụ thể như:

          * Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:

           Điều 16 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 ngày 06/4/2016 quy định:

          Điều 16. Miễn thuế

          …

          11. Hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, bao gồm:

          a) Máy móc, thiết bị; linh kiện, chi Tiết, bộ phận rời, phụ tùng để lắp ráp đồng bộ hoặc sử dụng đồng bộ với máy móc, thiết bị; nguyên liệu, vật tư dùng để chế tạo máy móc, thiết bị hoặc để chế tạo linh kiện, chi Tiết, bộ phận rời, phụ tùng của máy móc, thiết bị;

          b) Phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất của dự án;

          c) Vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được.

          Việc miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu quy định tại Khoản này được áp dụng cho cả dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng.

          13. Nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để sản xuất của dự án đầu tư thuộc danh Mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư hoặc địa bàn có Điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 05 năm, kể từ khi bắt đầu sản xuất.

          Việc miễn thuế nhập khẩu quy định tại Khoản này không áp dụng đối với dự án đầu tư khai thác khoáng sản; dự án sản xuất sản phẩm có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên; dự án sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.”

* Về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp:

          – Khoản 1 Điều 9 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp quy định:

          Điều 9. Miễn thuế

          1. Đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; đất của doanh nghiệp sử dụng trên 50% số lao động là thương binh, bệnh binh.”

          * Về thuế TNDN:

          Theo Luật Thuế TNDN hiện hành (Điều 13 và Điều 14) và các văn bản hướng dẫn đã quy định cụ thể ưu đãi thuế (Thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo) đối với: thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất vật liệu composite, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm và dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển do Chính phủ quy định đáp ứng một trong các tiêu chí

          – Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho công nghệ cao theo quy định của Luật Công nghệ cao

          – Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất sản phẩm các ngành: dệt – may; da – giầy; điện tử – tin học; sản xuất lắp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm này tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh Châu Âu (EU) hoặc tương đương.

          Theo điểm 4 khoản 8 Điều 1 Luật số 32/2013/QH13 ngày 19/6/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định:

          “Trường hợp doanh nghiệp có dự án đầu tư phát triển dự án đầu tư đang hoạt động thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật này mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao công suất, đổi mới công nghệ sản xuất (đầu tư mở rộng) nếu đáp ứng một trong ba tiêu chí quy định tại khoản này thì được lựa chọn hưởng ưu đãi thuế theo dự án đang hoạt động cho thời gian còn lại (nếu có) hoặc được miễn thuế, giảm thuế đối với phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng. Thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng quy định tại khoản này bằng với thời gian miễn thuế, giảm thuế áp dụng đối với dự án đầu tư mới trên cùng địa bàn, lĩnh vực ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

          Dự án đầu tư mở rộng được hưởng ưu đãi quy định tại khoản này phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

          a) Nguyên giá tài sản cố định tăng thêm khi dự án đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động đạt tối thiểu từ hai mươi tỷ đồng đối với dự án đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật này hoặc từ mười tỷ đồng đối với các dự án đầu tư mở rộng thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;

          b) Tỷ trọng nguyên giá tài sản cố định tăng thêm đạt tối thiểu từ 20% so với tổng nguyên giá tài sản cố định trước khi đầu tư;

          c) Công suất thiết kế tăng thêm tối thiểu từ 20% so với công suất thiết kế trước khi đầu tư.

          Trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động có đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế theo quy định của Luật này mà không đáp ứng một trong ba tiêu chí quy định tại khoản này thì áp dụng ưu đãi thuế theo dự án đang hoạt động cho thời gian còn lại (nếu có).”

          * Về các biện pháp hỗ trợ tài chính đối với tín dụng đầu tư:

          Hiện nay, chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước được thực hiện thống nhất theo quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước, trong đó :

          + Danh mục các dự án đầu tư bao gồm: Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm cơ khi trọng điểm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Dự án đầu tư thuộc danh mục các ngành công nghiệp hỗ trợ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Dự án ứng dụng công nghệ cao, dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao theo danh mục công nghệ cao do Thủ tướng Chính phủ ban hành: Dự án đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng sử dụng công nghệ sạch; Dự án đầu tư phương tiện xe buýt sử dụng nhiên liệu thân thiện với môi trường. Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ của doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật hiện hành; Các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.

          + Thời hạn vay vốn tín dụng đầu tư: 12 năm;

          + Lãi suất vay vốn tín dụng đầu tư do Ngân hàng Phát triển công bố;

          + Ngân hàng Phát triển (NHPT) là cơ quan thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước.

          Vì vậy, trường hợp các doanh nghiệp Nhật Bản sản xuất linh, phụ kiện ngành ô tô dự án có dự án đầu tư thuộc Danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, đề nghị liên hệ với NHPT để được hướng dẫn thực hiện.

          * Về ưu đãi tiền thuê đất:

          Theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước thì các dự án đầu tư bao gồm cả dự án đầu tư sản xuất vật liệu conposite, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm và dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (trong đó có các sản phẩm khuôn mẫu , đồ lắp ráp) thuộc danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư và đầu tư tại địa bản khó khăn theo quy định tại pháp luật về đầu tư thì ngoài thời gian được miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản (tối đa 03 năm) thì được miễn tiền thuê đất với mức từ 07 năm đến cả thời hạn thuê đất. Như vậy pháp luật về đất đai đã có ưu đãi về tiền thuề đất đối với các dự án đầu tư nhằm tạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp.

          Do vậy, về chính sách ưu đãi đối với dự án đầu tư sản xuất trang thiết bị nói chung và phục vụ cho lĩnh vực ô tô nói riêng, dự án đầu tư sản xuất vật liệu có giá trị gia tăng và chất lượng cao, đề nghị thực hiện ưu đãi theo quy định của pháp luật.

          17. Kiến nghị số 54

          Thực hiện quy định tại điều 30.1 và 30.2 của Nghị định 82, khi xem xét cấp phép cho DNCX, cơ quan đầu tư thực hiện xin ý kiến của cơ quan hải quan. Tuy nhiên, cơ quan hải quan cho rằng chưa có quy định nào hướng dẫn cụ thể về việc đáp ứng điều kiện kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan của cơ quan hải quan và các cơ quan đối với DNCX vì vậy không có căn cứ để xác nhận điều kiện này. Thêm vào đó, nếu xét về điều kiện doanh nghiệp chế xuất phải đảm bảo ngăn cách với lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, có cổng và cửa ra, vào bảo đảm điều kiện cho sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát của cơ quan hải quan và các cơ quan chức năng, tại thời điểm xin cấp Giáy chứng nhận đăng ký đầu tư  tư (“CNĐKĐT”), thì chắc chắn không doanh nghiệp nào có thể đáp ứng vì chỉ sau khi có Giấy CNĐKĐT doanh nghiệp mới có thể tiến hành hoạt động xây dựng nhà xưởng/cải tạo nhà xưởng để đáp ứng các điều kiện nêu trên.

          Trước thực tế trên, dù cơ quan đầu tư cấp giấy phép cho doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế DNCX nhưng thường nêu doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện quy định để được áp dụng cơ chế DNCX.

          Vì vậy, khi các doanh nghiệp này nhập khẩu máy móc thiết bị trong giai đoạn đầu tư để xây dựng nhà máy, cơ quan hải quan thực tế không cho phép doanh nghiệp áp dụng cơ chế DNCX, theo đó doanh nghiệp vẫn phải nộp thuế ở khâu nhập khẩu. Điều này làm tăng gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp ảnh hưởng đến dòng tiền của nhà đầu tư.

          Nhóm công tác Thuế và Hải quan xin đề nghị Bộ Tài chính cân nhắc sửa đổi Nghị định 82 theo hướng không đưa ra điều kiện xin ý kiến cơ quan hải quan tại khâu cấp phép cho DNCX. Cơ quan quản lý đầu tư có thể cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho phép doanh nghiệp áp dụng cơ chế DNCX dựa trên phương án đầu tư sản xuất xuất khẩu và cam kết của doanh nhiệp. DNCX sẽ có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu quy định tại văn bản pháp quy về hải quan và thuế xuất khẩu, nhập khẩu áp dụng cho khu phi thuế quan và DNCX. Cơ quan nhà nước sẽ áp dụng cơ chế “ hậu kiểm” để kiểm tra việc thực hiện việc thực hiện/đáp ứng các điều kiện của DNCX và sẽ áp dụng cơ chế phạt với các vi phạm của doanh nghiệp.

          Nội dung trả lời:

          – Về việc kiến nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định 82/2018/NĐ-CP theo hướng không đưa ra điều kiện xin ý kiến cơ quan hải quan tại khâu cấp phép cho DNCX: Vấn đề này liên quan đến nội dung  sửa đổi, bổ sung Nghị định thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ Kế Hoạch và Đầu tư. Vì vậy, đề nghị doanh nghiệp liên hệ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để được xem xét

          – Về việc đáp ứng điều kiện  kiểm tra, giám sát hải quan của DNCX: nội dung này, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ và đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 28a Nghị định  18/2021/NĐ-CP ngày 11/3/2021 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/4/2021)..

          18. Kiến nghị số 55

          Trong khi cơ quan hải quan thu thuế GTGT ở khâu nhập khẩu như trên, khi doanh nghiệp kê khai và xin hoàn thuế GTGT giai đoạn đầu tư với cục thuế địa phương, các cơ quan thuế địa phương lại cho rằng theo giấy phép doanh nghiệp là doanh nghiệp chế xuất nên không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT, nên không có cơ sở để hoàn thuế GTGT cho doanh nghiệp.

          Việc xử lý không nhất quán của cơ quan hải quan và cơ quan thuế như trên gây nhiều bức xúc, khó khăn cho doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của Việt Nam.

          Tại công văn số 5476/BTC-CST ngày 07 tháng 5 năm 2020, trả lời Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam về đề nghị hoàn thuế GTGT phát sinh trước khi được cơ quan hải quan xác nhận đáp ứng các điều kiện để được hưởng cơ chế DNCX, Bộ Tài chính đã trả lời theo hướng DNCX không được hoàn thuế do không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT mà Bộ Tài chính lại không xem xét theo tinh thần của Nghị định 82 (doanh nghiệp chỉ được hưởng cơ chế DNCX khi có xác nhận của cơ quan hải quan). Do các vướng mắc nêu trên, chúng tôi thấy trả lời này là không phù hợp.

          Vì vậy, trong thời gian chưa sửa đổi Nghị định 82, đế thống nhất cách xử lý giữa các cơ quan nhà nước, với các doanh nghiệp chế xuất đã phải nộp thuế GTGT khi mua, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ trước khi được hải quan xác nhận đáp ứng các điều kiện để được hưởng cơ chế DNCX, đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn cho phép các doanh nghiệp được kê khai thuế GTGT đầu vào phát sinh trong giai đoạn đầu tư trên Tờ khai thuế GTGT dành cho dự án đầgu tư Mẫu số 02/GTGT và được hoàn thuế GTGT cho giai đoạn đầu tư theo quy định hiện hành. Điều này là hết sức cần thiết để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và nhà đầu tư.

          Nội dung trả lời:

          Căn cứ quy định tại Điều 4 và Điều 13 Luật thuế giá trị gia tăng số13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc hội quy định về thuế giá trị gia tăng

          Căn cứ quy định tại điều 4 Luật thuế xuất nhập khẩu số 107/2016/QH13 ngày 6/4/2016 quy định về khu phi thuế quan;

          Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 30 của Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế;

          Căn cứ quy định tại khoản 10 Điều 1 Nghị định số 18/2021/NĐ-CP ngày 11/3/2021 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu về bổ sung Điều 28a Điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan và áp dụng chính sách thuế đối với doanh nghiệp chế xuất là khu phi thuế quan;

          Căn cứ quy định tại Điều 2 và Điều 9 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng quy định về người nộp thuế và khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

          Căn cứ các quy định nêu trên thì:

          Doanh nghiệp chế xuất không phải là người nộp thuế GTGT theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng.

          Về điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan và áp dụng chính sách thuế đối với doanh nghiệp chế xuất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 18/2021/NĐ-CP ngày 11/3/2021 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ.

          Đề nghị doanh nghiệp liên hệ với cơ quan quản lý thuế trực tiếp để được hướng dẫn thực hiện.

          19. Kiến nghị số 57, 58, 59 và 65

          * Kiến nghị số 57:

          Nhóm công tác Thuế & Hải quan cho rằng quy định tại Khoản 7, Điều 41 dự thảo Nghị định hướng dẫn luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 không phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định hiện hành về APA của các quốc gia khác. Hầu hết các quốc gia đều quy định thời điểm có hiệu lực của APA là từ năm nộp hồ sơ xin áp dụng APA. Nhiều nước thống nhất với khuyến nghị và phương án hành động do OECD đề xuất như công nhận thời hạn hiệu lực của APA theo thời hạn người nộp thuế đề xuất trong hồ sơ, cho phép thời hạn APA được mở rộng sang các năm tài chính đã qua (hồi tố).

          Tuy nhiên, theo Khoản 7, Điều 41 dự thảo Nghị định thì giai đoạn lập hồ sơ và đàm phán APA đều không được tính là thời điểm có hiệu lực của APA. Cụ thể, sẽ có sự khác biệt về giai đoạn có hiệu lực của APA giữa Việt Nam với các quốc gia đối tác trong thỏa thuận APA (Ví dụ: Nhật Bản, Hàn Quốc) khiến cho việc đàm phán trở nên khó khăn và kết quả có thể làm cho việc đàm phán APA trở nên không khả thi.

          Nhóm công tác Thuế & Hải quan đề xuất ý kiến thời điểm hiệu lực của APA theo hai phương án:

          – Phương án 1: Được tính từ năm nộp hồ sơ xin áp dụng APA của người nộp thuế và mở rộng giai đoạn áp dụng đối với ít nhất năm (05) năm tài chính trước đó.

          – Phương án 2: Được tính từ năm nộp hồ sơ xin áp dụng APA của người nộp thuế

          Nhóm công tác Thuế & Hải quan cho rằng việc sửa đổi điều khoản này tại Dự thảo theo các phương án nêu trên sẽ sẽ tạo ra cơ môi trường đầu tư thực sự cạnh tranh với các nước trong khu vực và tránh gây ra các tranh chấp quốc tế và phù hợp với khuyến nghị của OECD trong chương trình hành động số 14 của BEPS.

          *  Kiến nghị số 58:

          – Quy định của Việt Nam về thời gian có hiệu lực của APA không phù hợp với quy định về APA ở các quốc gia khác và có thể dẫn đến tình trạng đánh thuế hai lần đối với các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Điều này mâu thuẫn với các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (“DTAA”) mà Việt Nam đã ký với các nước khác.

          – Quy định của Việt Nam về thời gian APA có hiệu lực là không phù hợp với thông lệ quốc tế mà OECD khuyến nghị và sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư nước ngoài của Việt Nam.

          – Việc xử lý hồ sơ nộp trước ngày Nghị định này có hiệu lực còn thiếu rõ ràng.

          Hiệp hội doanh nghiệp Ấn Độ hy vọng dự thảo Nghị định sẽ được xem xét kỹ lưỡng với mục tiêu nâng cao hiệu quả của môi trường pháp lý, góp phần củng cố niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

          Hiệp hội doanh nghiệp Ấn Độ đề nghị bổ sung một điều khoản riêng hướng dẫn xử lý các hồ sơ đã nộp trước ngày Luật Quản lý thuế có hiệu lực vào dự thảo Nghị định nhằm củng cố niềm tin của nhà đầu tư vào sự ổn định và minh bạch của pháp luật Việt Nam.

          * Kiến nghị số 59:

          Trong khi mức thuế suất 20% của Việt Nam là cạnh tranh, các số liệu cho thấy việc khai và nộp thuế ở Việt Nam vẫn còn quá khó khăn so với các nước láng giềng. Quá nhiều các công ty đang chịu những đối xử không công bằng và thiếu minh bạch về việc đánh giá mức thuế, tiền phạt và tiền lãi. Các nhà đầu tư cần thấy các thủ tục kiểm toán và thuế quan có thể dự đoán được và nhất quán với tiêu chuẩn toàn cầu, đồng thời ngăn chặn các phán quyết có hiệu lực hồi tố. Sau nhiều năm, chúng ta vẫn thấy rằng các tiêu chuẩn kế toán của Việt Nam chưa tiệm cận với các tiêu chuẩn toàn cầu, chúng tôi cũng hy vọng được nhìn thấy những sự tiến bộ đối với Thỏa Thuận Trước Về Phương Pháp Xác Định Giá Tính Thuế (APA) nhằm tạo ra sự ổn định và khả năng dự đoán cần thiết để tích hợp vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự tiến bộ trong các lĩnh vực thuế sẽ giúp cải thiện các điều kiện kinh doanh nhằm tăng cường sức mạnh cho khối tư nhân, đảm bảo sự phát triển về kinh tế và xã hội, thu hút thêm đầu tư và thúc đẩy sự thịnh vượng tại Việt Nam.

          * Kiến nghị số 65:

          Do Hệ thống xác nhận trước trong đó Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và các cơ quan chức năng của nước khác trong đó có Nhật Bản thương lượng với nhau để thống nhất về phạm vi chưa đi vào hoạt động, nên đã làm tăng rủi ro về mặt quản lý của doanh nghiệp Nhật Bản khi tính thuế định giá chuyển nhượng.

          Để giảm thiểu rủi ro khi tính thuế định giá chuyển nhượng, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Hệ thống xác nhận trước trong đó Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và các cơ quan chức năng của nước khác trong đó có Nhật Bản thương lượng với nhau để thống nhất về phạm vi đối tượng, nhưng vẫn chưa quyết định người ký tên cuối cùng ở phía Việt Nam nên Hệ thống này vẫn chưa đi vào hoạt động.

          Nội dung trả lời:

          Tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc hội và Nghị định Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định chi tiết một số Điều của Luật Quản lý thuế đã có hướng dẫn về việc thực hiện cơ chế APA tại Việt Nam. Cụ thể, định nghĩa cơ chế APA và thời điểm có hiệu lực của APA được quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Quản lý thuế; nguyên tắc khai thuế đối với cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế được quy định tại tại khoản 6 Điều 42 Luật Quản lý thuế. Các nội dung quy trình, thủ tục, thẩm quyền thực hiện cơ chế này được quy định chi tiết tại Điều 41 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.

          Trên cơ sở các nguyên tắc, quy định tại Luật Quản lý thuế và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP nêu trên, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 45/2021/TT-BTC ngày 21/6/2021 để hướng dẫn việc áp dụng cơ chế APA được thực hiện theo đúng quy định tại Luật Quản lý thuế, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành

          20. Kiến nghị số 61 và số 62

          * Kiến nghị số 61:

          Việt Nam đã ban hành Chính sách ưu đãi thuế đối với ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp công nghệ cao, nhưng chưa quy định rõ tiêu chí để trở thành đối tượng được hưởng ưu đãi, và có trường hợp giữa các bộ, ngành có cách hiểu khác nhau. Nếu bị truy thu thuế sau khi bị thanh tra thuế thì ưu đãi thuế không còn là chính sách khuyến khích nữa, mà là một rủi ro đối với doanh nghiệp.

          Để tránh điều này, chúng tôi mong chính phủ Việt Nam thực hiện các biện pháp để giúp sử dụng hiệu quả hơn các chính sách ưu đãi thuế hiện tại bằng cách ban hành văn bản hướng dẫn giúp làm rõ các quy định hiện hành.

          * Kiến nghị số 62:

          Tại Việt Nam, đã ban hành chính sách ưu đãi thuế dành cho doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh lĩnh vực công nghệ cao nhằm thu hút các Cơ sở sản xuất sử dụng công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, đối tượng xin cấp giấy phép kinh doanh lĩnh vực công nghệ cao này chỉ áp dụng cho các công nghệ và sản phẩm đang được xem xét tại thời điểm xin cấp giấy phép, không bao gồm các công nghệ và sản phẩm mới. Do đó, chính sách này không mang tính khuyến khích cao cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ và sản phẩm tiên tiến mới.

          Đặc biệt, chu kỳ vòng đời của các sản phẩm và công nghệ tiên tiến thường rất ngắn, có nhiều trường hợp ví dụ như một chiếc điện thoại thông minh chẳng hạn, cùng một mẫu máy sau 4-5 năm có thể phải sử dụng công nghệ hoàn toàn khác. Chính vì vậy, chúng tôi hy vọng chính phủ sẽ xây dựng một chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ và sản phẩm thông qua việc cho phép kéo dài thời hạn tái thẩm định, miễn trừ giấy phép kinh doanh lĩnh vực công nghệ cao.

          Nội dung trả lời:

          Luật thuế TNDN hiện hành quy định về đối tượng, tiêu chí và mức ưu đãi thuế đối với lĩnh vực công nghệ hỗ trợ, công nghệ cao, cụ thể:

          – Áp dụng thuế suất 10% trong thời gian 15, miễn thuế 04 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo đối với:

          + Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới, bao gồm: nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật công nghệ cao; đầu tư xây dựng – kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao;

          + Thu nhập của doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định của Luật công nghệ cao;

          + Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho công nghệ cao theo quy định của Luật công nghệ cao; Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất sản phẩm các ngành: dệt – may; da – giầy; điện tử – tin học; sản xuất lắp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm này tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh Châu Âu (EU) hoặc tương đương.

          – Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 đáp ứng các Điều kiện quy định tại Luật số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Trình tự, thủ tục xác nhận ưu đãi và hậu kiểm ưu đãi đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh Mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển thực hiện theo quy định tại Thông tư số 55/2015/TT-BCT ngày 30/12/2015 của Bộ Công thương.

          – Ưu đãi thuế TNDN đối với thu nhập của dự án ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp Nhà nước ứng dụng công nghệ cao căn cứ vào giấy chứng nhận dự án ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp Nhà nước ứng dụng công nghệ cao do Bộ Khoa học Công nghệ cấp. Trình tự, thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 32/2011/TT-BKHCN ngày 15/11/2011 của Bộ Khoa học Công nghệ ban hành.

          Như vậy, việc áp dụng các ưu đãi đối với dự án trong lĩnh vực công nghệ cao, lĩnh vực công nghệ hỗ trợ được dựa trên các giấy chứng nhận dự án ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp Nhà nước ứng dụng công nghệ cao, dự án công nghệ hỗ trợ… do các bên chuyên ngành cấp và đảm bảo phù hợp với Luật thuế TNDN hiện hành. Theo đó, trường hợp phát sinh vướng mắc liên quan đến tiêu chí xác định dự án ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp Nhà nước ứng dụng công nghệ cao hay dự án sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được ưu tiên phát triển, đề nghị dự án nêu kiến nghị cụ thể và gửi về các cơ quan chuyên môn (Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Công thương) để được giải quyết.

          21. Kiến nghị số 63

          Trong chính sách thuế định giá chuyển nhượng, đối tượng là doanh nghiệp có nhiều giao dịch với bên liên quan chẳng hạn như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm cả Nhật Bản, nhưng trong phạm vi quy định đối tượng được miễn thuế lại đang đề xuất là tính từ Tứ phân vị thứ nhất trở lên (top 75%) hoặc bách phân vị thứ 35 (top 65% trở lên).Trong khi nhiều nước phát triển khác đang áp dụng Tứ phân vị thứ nhất thì quy định này của Việt Nam khá là khắt khe, và tương đối bất lợi với doanh nghiệp vì nó làm tăng khả năng đánh thuế hai lần một cách vô lý giữa hai nước.

          Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản mong muốn chính phủ vẫn giữ cách tính Tứ phân vị thứ nhất như hiện tại phù hợp với thông lệ quốc tế.

          Nội dung trả lời:

          Qua công tác quản lý thuế cho thấy, khi lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết, đối tượng so sánh độc lập lựa chọn trong khoảng rộng và khoảng giá trị độc lập chuẩn có biên độ lớn. Từ dải biên độ lớn, doanh nghiệp xác định thuộc phạm vi của khoảng giá trị này nên không điều chỉnh xác định lại giá giao dịch liên kết, ảnh hưởng tới việc xác định nghĩa vụ thuế. Vì vậy, nhằm mục tiêu thu hẹp khoảng giá trị giao dịch độc lập chuẩn, với mục tiêu về quản lý thuế, nên Bộ Tài chính đề xuất thu hẹp khoảng giá trị giao dịch độc lập chuẩn (từ bách phân vị 35 thay cho bách phân vị 25). Nội dung này, Bộ Tài chính đã thuyết minh báo cáo giải trình khi xây dựng Nghị định số 132/2020/NĐ-CP.

          22. Kiến nghị số 64

          Trong dự thảo sửa đổi nghị định Chính phủ có đề xuất về trường hợp bắt buộc pháp nhân Việt Nam là công ty con phải lập báo cáo lợi nhuận liên quốc gia, nhưng đây là một yêu cầu không thực tế, và sẽ tạo nên gánh nặng và rủi ro quá sức đối với công ty con.

          Do công ty con ít khi có được thông tin về công ty mẹ và các công ty con ở các quốc gia khác, cho nên quy định này làm tăng rủi ro không cần thiết cho doanh nghiệp khi đầu tư vào Việt Nam và thành lập pháp nhân tại Việt Nam. Vì vậy chúng tôi mong chính phủ xóa bỏ quy định này.

          Nội dung trả lời:

          Tại Khoản 5 Điều 18 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có phát sinh giao dịch liên kết quy định:

          “Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong kê khai, xác định giá giao dịch liên kết

          ….

5. Người nộp thuế có nghĩa vụ liên quan đến Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia:

      a) Trường hợp người nộp thuế là Công ty mẹ tối cao tại Việt Nam có doanh thu hợp nhất toàn cầu trong kỳ tính thuế từ mười tám nghìn tỷ đồng trở lên, có trách nhiệm lập Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết theo Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định này. Thời hạn nộp Báo cáo cho Cơ quan thuế chậm nhất là 12 tháng sau ngày kết thúc năm tài chính của Công ty mẹ tối cao.

b) Người nộp thuế tại Việt Nam có công ty mẹ tối cao tại nước ngoài mà công ty mẹ tối cao có nghĩa vụ lập Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia theo quy định của nước cư trú phải nộp cho Cơ quan thuế trong các trường hợp sau:

– Quốc gia, vùng lãnh thổ nơi Công ty mẹ tối cao là đối tượng cư trú có Thỏa thuận quốc tế về thuế với Việt Nam nhưng không có Thỏa thuận của Nhà chức trách có thẩm quyền tại thời điểm đến hạn nộp Báo cáo theo quy định tại điểm a khoản này.

– Quốc gia, vùng lãnh thổ nước ngoài nơi Công ty mẹ tối cao là đối tượng cư trú có Thỏa thuận giữa Nhà chức trách có thẩm quyền với Việt Nam nhưng đã đình chỉ cơ chế trao đổi thông tin tự động hoặc không tự động cung cấp được cho Việt Nam Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia của tập đoàn là đối tượng cư trú tại các quốc gia, vùng lãnh thổ nước ngoài đó.

– Trường hợp tập đoàn đa quốc gia có nhiều hơn 01 người nộp thuế tại Việt Nam và Công ty mẹ tối cao tại nước ngoài có văn bản thông báo chỉ định một trong những người nộp thuế tại Việt Nam nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia thì người nộp thuế được chỉ định có nghĩa vụ nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia cho Cơ quan thuế. Người nộp thuế có nghĩa vụ nộp văn bản thông báo chỉ định của Công ty mẹ tối cao cho Cơ quan thuế trước hoặc vào ngày kết thúc năm tài chính của Công ty mẹ tối cao của người nộp thuế.

c) Quy định tại điểm b khoản này không áp dụng trong trường hợp Công ty mẹ tối cao của người nộp thuế tại Việt Nam chỉ định một tổ chức thay mặt nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia cho Cơ quan thuế nước sở tại trước hoặc vào ngày quy định tại điểm a khoản này và đáp ứng các điều kiện sau:

– Quốc gia, vùng lãnh thổ nơi tổ chức thay mặt nộp báo cáo là đối tượng cư trú có quy định yêu cầu nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia.

– Quốc gia, vùng lãnh thổ nơi tổ chức thay mặt nộp báo cáo là đối tượng cư trú có Thỏa thuận giữa Nhà chức trách có thẩm quyền với Việt Nam là một bên ký kết tại thời điểm đến hạn nộp Báo cáo theo quy định tại điểm a khoản này.

– Quốc gia, vùng lãnh thổ nơi tổ chức thay mặt nộp báo cáo là đối tượng cư trú có Thỏa thuận giữa Nhà chức trách có thẩm quyền với Việt Nam, không đình chỉ cơ chế trao đổi thông tin tự động và cung cấp được cho Việt Nam Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia của tập đoàn là đối tượng cư trú tại quốc gia, vùng lãnh thổ nước ngoài đó.

– Tổ chức thay mặt nộp báo cáo có văn bản thông báo được chỉ định nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia cho Cơ quan thuế nước cư trú vào trước hoặc vào ngày kết thúc năm tài chính của Công ty mẹ tối cao của tập đoàn.

– Văn bản thông báo chỉ định tổ chức thay mặt nộp báo cáo được người nộp thuế tại Việt Nam cung cấp cho Cơ quan thuế Việt Nam theo quy định tại điểm b khoản này.

– Người nộp thuế tại Việt Nam có văn bản thông báo cho Cơ quan thuế Việt Nam về tên, mã số thuế và nước cư trú của Công ty mẹ tối cao hoặc tổ chức thay mặt nộp báo cáo trước hoặc vào ngày cuối cùng của năm tài chính của tập đoàn.

d) Trường hợp người nộp thuế có Công ty mẹ tối cao tại nước ngoài phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia theo quy định của nước cư trú, Cơ quan thuế thực hiện trao đổi thông tin tự động theo cam kết tại các Thỏa thuận quốc tế về thuế của Việt Nam.

đ) Trường hợp người nộp thuế có Công ty mẹ tối cao không bắt buộc phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia theo quy định của nước cư trú thì thực hiện theo điều ước quốc tế về thuế.”

          Căn cứ quy định nêu trên thì việc lập Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia là nghĩa vụ của Công ty mẹ tối cao (nếu thuộc trường hợp phải lập theo quy định của nước cư trú). Như vậy, Công ty con tại Việt Nam không phải lập Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia mà chỉ phải nộp cho Cơ quan thuế trong các trường hợp theo quy định tại điểm b, khoản 5, Điều 18 Nghị định 132/2020/NĐ-CP.

          23. Kiến nghị số 66

          Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (“Cục QLGSBH”) đã áp dụng quan điểm rằng không nên công nhận một số hoạt động đại lý lâu nay trong mô hình đại lý đa tầng là các hoạt động đại lý trong phạm vi được pháp luật công nhận. Cách giải thích luật làm thu hẹp phạm vi hoạt động cho phép của doanh nghiệp bảo hiểm và khả năng khấu trừ các chi phí liên quan như trên không phù hợp với thông lệ thị trường được các doanh nghiệp bảo hiểm chủ chốt tại Việt Nam và thị trường quốc tế đề ra, và cũng không phù hợp với sự chấp nhận lâu nay của các cơ quan thuế Việt Nam và chính Cục QLGSBH.

          Các cơ quan quản lý nên nhìn nhận cởi mở hơn để công nhận mô hình này và áp dụng pháp luật một cách nhất quán để chấp nhận mọi chi phí liên quan là chi phí hợp lý và hợp lệ cho mục đích tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

          Nội dung trả lời:

          Các quy định về chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đã được quy định rõ ràng, đầy đủ tại Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành, được áp dụng ổn định trong nhiều năm. Ví dụ như sau:

          – Hoạt động đại lý bảo hiểm được quy định tại Điều 85 Luật Kinh doanh bảo hiểm, cụ thể: Đại lý bảo hiểm có thể được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền tiến hành các hoạt động sau đây: Giới thiệu, chào bán bảo hiểm; Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm; Thu phí bảo hiểm; Thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

          – Các khoản chi cho đại lý được quy định tại Điều 69 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 1 nghị định 80/2019/NĐ-CP, cụ thể: Chi quản lý đại lý bảo hiểm gồm: Chi đào tạo, ban đầu  và thi cấp chứng chỉ đại lý, chi đào tạo nâng cao kiến thức cho đại lý, chi tuyển dụng đại lý, chi khen thưởng đại lý và chi hỗ trợ đại lý.

          – Nguyên tắc xác định chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm được hướng dẫn tại Điều 22 Thông tư số 50/2017/TT-BTC, cụ thể:  Chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài là các khoản phải chi, phải trích phát sinh trong kỳ theo quy định tại Điều 69 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP. Các khoản chi phải đúng theo quy định của pháp luật, đảm bảo có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hoặc bằng chứng chứng minh.

          – Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN được quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC, cụ thể: “Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.”

          – Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định tại điểm 2.30 và điểm 2.35 khoản 2 Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC, cụ thể: “Các khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế.  Các khoản chi của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số, kinh doanh chứng khoán và một số hoạt động kinh doanh đặc thù khác không thực hiện đúng theo văn bản hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính”

          Đối với quỹ chủ hợp đồng bảo hiểm, là quỹ được hình thành từ nguồn đóng góp của người tham gia bảo hiểm, các khoản chi phí (bao gồm chi phí cho đại lý bảo hiểm) được quy định chặt chẽ nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, cân bằng với quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, cân bằng với quyền lợi của chủ đầu tư, phù hợp với thông lệ quốc tế. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm cần tuân thủ quy định pháp luật và các khoản chi phí phải đảm bảo hợp lý, hợp lệ.

          Trong thời gian qua cũng như thời gian tới, Bộ Tài chính (Cục QLGSBH) đã và sẽ tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, xử lý đối với các hành vi sai phạm để bảo đảm quy định của pháp luật được thực hiện một cách nghiêm túc, góp phần vào sự phát triển chung của thị trường bảo hiểm. Đối với các cuộc thanh tra đã thực hiện, các DNBH đều nhất trí và nghiêm túc thực hiện các kết luận thanh tra và quy định pháp luật.

          Trường hợp DNBH muốn áp dụng mô hình kinh doanh, kênh phân phối mới dẫn đến phải sử dụng các khoản chi trừ quỹ chủ hợp đồng bảo hiểm, có khả năng ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần nghiên cứu, đánh giá tác động và đề xuất với cơ quan quản lý để có căn cứ xem xét.

          Hiện nay, Bộ Tài Chính đang trong quá trình xây dựng dự thảo Luật kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) thay thế cho các Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành, dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến vào năm 2021 và có hiệu lực năm 2023.

          24. Kiến nghị số 67 và số 68

          * Kiến nghị số 67:

          (1) Ngành nghề không quy định hạn chế sở hữu nước ngoài: Đối với ngành nghề mà điều ước quốc tế/ pháp luật không hạn chế sở hữu nước ngoài, đề xuất áp dụng tỷ lệ sở hữu nước ngoài  100%, so với tỉ lệ hiện tại là 49%. Theo đó, khoản 1 Điều 139 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP quy định:

1. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa tại công ty đại chúng được xác định như sau:

a) Công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh mà điều ước quốc tế có Việt Nam là thành viên quy định về sở hữu nước ngoài thì thực hiện theo điều ước quốc tế;

b) Công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh mà pháp luật liên quan có quy định về sở hữu nước ngoài thì thực hiện theo quy định tại pháp luật đó;

c) Công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh thuộc danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài thì thực hiện theo quy định về sở hữu nước ngoài tại danh mục. Trường hợp ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện tại danh mục không quy định cụ thể điều kiện tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa tại công ty là 50% vốn điều lệ;

d) Công ty đại chúng không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều này, tỷ lệ sở hữu nước ngoài là không hạn chế;

đ) Trường hợp công ty đại chúng hoạt động đa ngành, nghề, có quy định khác nhau về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu nước ngoài không vượt quá mức thấp nhất trong các ngành, nghề có quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài;

e) Trường hợp công ty đại chúng quyết định tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa thấp hơn tỷ lệ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ khoản 1 Điều này thì tỷ lệ cụ thể phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua và quy định tại Điều lệ công ty”.

          (2) Quyền quyết định tỷ lệ sở hữu nước ngoài của công ty: Đề xuất các công ty được phép quyết định/giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa trong Điều lệ.

          (3) Điều kiện một tổ chức kinh tế bị coi là nhà đầu tư nước ngoài: Một tổ chức kinh tế chỉ bị đối xử như nhà đầu tư nước ngoài khi (i) có trên 50% vốn nước ngoài trong ít nhất 180 ngày trong 01 năm và (ii) có 35% vốn điều lệ thuộc sở hữu của 01 nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan.

          (4) Ngoại trừ đối với công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ: Công ty chứng khoán khi cung cấp dịch vụ chứng khoán và công ty quản lý quỹ khi quản lý danh mục đầu tư không bị xem là “nhà đầu tư nước ngoài”, bất kể công ty chứng khoán hoặc công ty quản lý quỹ đó có tỷ lệ sở hữu nước ngoài lớn hơn hoặc nhỏ hơn 50%.

          (5) Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết (“NVDR”): Đề xuất ban hành quy định để triển khai NVDR.

          (6) Đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước: Cần đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong những lĩnh vực, ngành nghề không cần Nhà nước kiểm soát đặc biệt, để tăng số lượng cổ phần lưu hành trên thị trường.

          (7) Tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong ngân hàng: Cho phép nâng tỷ lệ sở hữu nước ngoài lên mức mới (ví dụ: 40-49%), so với mức hiện tại là 30%.

          (8) Mô hình thanh toán giao dịch chứng khoán mới thông qua Đối tác Bù trừ Trung tâm (Central Clearing Counterparty – CCP):

          a. Ký quỹ: Bỏ yêu cầu ký quỹ đối với thành viên bù trừ; việc ký quỹ của nhà đầu tư cần loại bỏ hoặc theo thoả thuận riêng giữa thành viên bù trừ và nhà đầu tư (mỗi thành viên bù trừ có thể áp dụng mức ký quỹ riêng cho từng nhà đầu tư).

          b. Mô hình:

          (i) Ngân hàng lưu ký (“NHLK”) làm thành viên bù trừ: Ngân hàng Nhà nước sửa đổi quy định cho phép ngân hàng lưu ký thực hiện chức năng bù trừ & thanh toán giao dịch chứng khoán, cho nhà đầu tư nước ngoài vay tiền và trích lập dự phòng rủi ro.

          (ii) Ngân hàng lưu ký không làm thành viên bù trừ: Tiền ký quỹ, tiền và chứng khoán của nhà đầu tư phải được giao dịch theo cách thức:

          (A) tài khoản của nhà đầu tư mở tại NHLK tài khoản tổng của CCP (nhà đầu tư chuyển và nhận tiền – chứng khoán trực tiếp với CCP, không qua TVBT); hoặc

          (B) tài khoản của nhà đầu tư mở tại NHLK tài khoản của nhà đầu tư mở tại TVBT tài khoản tổng của CCP (nhà đầu tư chuyển và nhận tiền/ chứng khoán qua TVBT nhưng phải thực hiện trong ngày giao dịch).

          c. Thời hạn triển khai/ chuyển tiếp: Chỉ triển khai CCP khi nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức cung cấp dịch vụ của họ và các thành viên thị trường đã sẵn sàng, ít nhất 06 tháng kể từ khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (“UBCKNN”)/ Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (“TTLKCK”) ban hành quy định chính thức về CCP.

          (9) ETF: Miễn trừ công bố thông tin của ETFs cần được mở rộng cho (i) hoạt động tái cơ cấu danh mục theo định kỳ thay đổi của chỉ số tham chiếu (rebalancing) của quỹ ETF và (ii) người liên quan của người nội bộ của quỹ ETF.

          (10) Người có liên quan: Kiến nghị làm rõ khái niệm “kiểm soát”.

          (11) Trái phiếu:

          – Đơn giản hoá thủ tục phát hành trái phiếu riêng lẻ của công ty đại chúng và công ty chưa đại chúng.

          – Rút ngắn thời gian cấp phép và niêm yết trái phiếu phát hành ra công chúng.

          – Xây dựng hệ thống giao dịch trái phiếu phát hành riêng lẻ dành riêng cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.

          – Huỷ bỏ hạn chế tỷ trọng đầu tư 10% vào trái phiếu đối với quỹ mở.

          – Huỷ bỏ phân biệt việc đầu tư vào trái phiếu phát hành ra công chúng được niêm yết và trái phiếu phát hành riêng lẻ được niêm yết đối với quỹ mở.

          (12) Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp: Đề xuất mở rộng khái niệm “nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp”, để tạo điều kiện cho các công ty holding/ tổ chức mục đích đặc thù (Special Purpose Vehicles – SPVs), các nhà đầu tư chứng khoán theo quy định pháp luật nước ngoài được xem là “nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp” theo pháp luật Việt Nam.

          (13) Tài khoản tổng (omnibus account): Đề nghị cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mở tài khoản tổng và các tài khoản phụ dưới tài khoản tổng cho các danh mục đầu tư riêng biệt.

          (14)  Đại lý ký danh (omnibus agent) cho quỹ mở: Đề nghị cho phép đại lý ký danh thực hiện giao dịch tiền netting và tự thực hiện việc chuyển trả cho nhà đầu tư thay vì phải thực hiện từng giao dịch thanh toán cho nhà đầu tư qua tài khoản tại ngân hàng giám sát của quỹ.

          (15)  Tổ chức lưu ký uỷ thác: Đề nghị làm rõ cơ chế hoạt động của “tổ chức lưu ký uỷ thác” – tổ chức trung gian thực hiện lưu ký chứng khoán cho các nhà đầu tư theo hợp đồng ủy thác, gồm trung tâm lưu ký chứng khoán nước ngoài, ngân hàng lưu ký toàn cầu, công ty quản lý quỹ, tổ chức khác được UBCKNN chấp thuận:

          – Cấp 02 mã số giao dịch chứng khoán gồm 01 cho tổ chức lưu ký uỷ thác và 01 cho nhà đầu tư nước ngoài là khách hàng của tổ chức lưu ký uỷ thác.

          – Các nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển đổi tài khoản tiền và chứng khoán đang mở tại NHLK sang hệ thống tài khoản của tổ chức lưu ký uỷ thác (khi có nhu cầu).

          – Chỉ cho phép mở tài khoản giao dịch chứng khoán đứng tên tổ chức lưu ký uỷ thác.

          – Quy định rõ nghĩa vụ công bố thông tin, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, quyền biểu quyết, v.v. khi nhà đầu tư nước ngoài chọn lưu ký chứng khoán tại tổ chức lưu ký uỷ thác.

          (16) Giao dịch trong ngày và giao dịch chứng khoán chờ về: Đề xuất quy định rõ giao dịch trong ngày và giao dịch chứng khoán chờ về, đặc biệt cho phép nhà đầu tư nước ngoài thực hiệc các giao dịch này.

          (17)  Sử dụng thông tin nội bộ trong quá trình thẩm định công ty: Đề xuất quy định ngoại trừ cho việc nhà đầu tư giao dịch sau khi có được thông tin nội bộ từ quá trình thẩm định công ty, ví dụ như nhà đầu tư đã ký thoả thuận bảo mật thông tin, nhà đầu tư đã bị hạn chế giao dịch trong một khoảng thời gian, thông tin cung cấp cho nhà đầu tư đã được công bố rộng rãi.

          18) Đơn vị tư vấn phát hành chứng khoán: Đề xuất quy định công ty chứng khoán và công ty luật là đơn vị được phép tư vấn phát hành chứng khoán.

          (19) Điều kiện niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán: Đề xuất xem xét lại quy định tại Luật Chứng khoán yêu cầu công ty đại chúng phải giao dịch trên UPCOM tối thiểu 02 năm trước khi được đăng ký niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán.

          (20) Niêm yết doanh nghiệp FDI: Đề xuất hướng dẫn cụ thể về việc niêm yết các doanh nghiệp FDI.

          * Kiến nghị số 68:

          Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản mong chính phủ “Làm rõ tiêu chí vận hành quy định giao dịch nội gián liên quan đến việc mua bán cổ phiếu của công ty niêm yết”. Cụ thể là làm rõ tiêu chí vận hành quy định giao dịch nội gián trong Thông tư hoặc các hình thức tài liệu chính thức khác

          Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản cũng hy vọng rằng chính phủ sẽ nới lỏng giới hạn đối với “Giới hạn tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong công ty niêm yết”. Chúng tôi hy vọng rằng trong Nghị định mới của chính phủ hiện đang soạn thảo sẽ nới lỏng hơn nữa tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài.

          Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản mong chính phủ xem xét lại “Phương pháp định giá cổ phiếu và phương pháp chào bán cổ phiếu của công ty nhà nước”. Ví dụ, chúng tôi mong muốn chính phủ cải thiện tính minh bạch về thủ tục hành chính bao gồm việc quy định rõ trong các văn bản pháp luật các nguyên tắc, hình thức đấu thầu công khai, quy trình và yêu cầu trong việc Thẩm định chi tiết doanh nghiệp.

          Nội dung trả lời:

          (1) Kiến nghị liên quan đến tỷ lệ sở hữu nước ngoài (SHNN) trên thị trường chứng khoán (TTCK)

          Về tỷ lệ SHNN tại công ty đại chúng: Thực hiện theo qyt định tại Điều 139 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán (Nghị định số 155/2020/NĐ-CP), theo đó:

          – Cho phép tỷ lệ SHNN tối đa đến 100% đối với ngành nghề không bị hạn chế tỷ lệ SHNN

          – Cho phép công ty đại chúng được phép quyết định/giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa theo Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông và Điều lệ công ty

          Về ứng xử với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 143 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP, theo đó tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm cả các công ty chứng khoán) phải áp dụng điều kiện về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, trình tự, thủ tục đầu tư trên thị trường chứng khoán như nhà đầu tư nước ngoài khi có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

          (2) Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết (“NVDR”): Điều 140 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP đã quy định về “chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết “. Tuy nhiên, việc triển khai sản phẩm NVDR cần thành lập được công ty con của Sở giao dịch chứng khoán với vai trò là tổ chức phát hành. Do đó, trên cơ sở thành lập được công ty con của SGDCK có chức năng phát hành NVDR, Bộ Tài chính sẽ có quy định cụ thể để triển khai sản phẩm này.

          (3) Đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước: Triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/06/2017 của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khoá XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; Nghị quyết 134/2020/QH14 ngày 17/11/2020 cả Quốc hội về tiếp tục thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề, chất vấn trong nhiệm kỳ khoá XIV và một số nghị quyết trong nhiệm kỳ khoá XIII;

          Thực hiện nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát triển nền kinh tế số tại tiết 2.2 điểm 2 mục IV Phần thứ hai Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm năm 2016-2025 (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII): “Tiếp tục thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, tâp trung giữ vững những lĩnh vực then chốt, thiết yếu’ những địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh, những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư… Đến năm 2025, hoàn tất việc sắp xếp lại khối doanh nghiệp nhà nước;…”

          Bộ Tài chính đang xây dựng Đề án: “Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nươc (DNNN), trọng tâm là Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước giai đoạn 2021-2025” để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, trong đó có các giải pháp để cổ phần hoá DNNN, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng như đẩy mạnh việc thoái vốn của DNNN đang đầu tư ngoài ngành, lĩnh vực kinh doanh chính; các doanh nghiệp đã cổ phần hoá thực hiện nghiêm quy định về đăng ký lưu ký, đăng ký giao dịch, đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán.

          Sau khi Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Tài chính, các Bộ, ngành và cơ quan đại diện chủ sở hữu sẽ phối hợp, triển khai thực hiện các giải pháp đã đề ra, góp phần đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá DNNN trong giai đoạn 2021-2025.

          (4) Tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong ngân hàng: Nội dung này thuộc phạm vi của Ngân hàng Nhà nước, đề nghị kiến nghị cụ thể từ VBF với Ngân hàng Nhà nước để được giải quyết.

          (5) Bù trừ thanh toán giao dịch chứng khoán theo cơ chế Đối tác Bù trừ Trung tâm (CCP)

          Ký quỹ: Các nội dung VBF đề cập hiện được quy định tại chương IV Nghị định số 155/2020/NĐ-CP và Thông tư 119/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán. Theo đó:

          – Về yêu cầu ký quỹ đối với thành viên bù trừ (TVBT): Điều 28 Thông tư số 119/2020/TT-BTC quy định: “Tỷ lệ ký quỹ bù trừ bằng tiền thực hiện theo quy chế của Tổng công ty lưu ký và bù trừ” và “Việc xác định các loại ký quỹ bù trừ,… tỷ lệ ký quỹ bù trừ, tỷ lệ ký quỹ bù trừ tối thiểu bằng tiền, việc thực hiện các quyền liên quan đến chứng khoán ký quỹ bù trừ và các nội dung liên quan khác thực hiện theo quy chế của VSD”. Theo thông lệ quốc tế, với cơ chế CCP, mọi hoạt động thanh toán giao dịch chứng khoán đều thực hiện qua thành biên bù trừ; đồng thời thành viên bù trừ chịu mọi trách nhiệm về thanh toán giao dịch chứng khoán với CCP.  Quy định về tỷ lệ ký quỹ tối thiểu đảm bảo an toàn cho hệ thống thanh toán khi áp dụng cơ chế CCP do Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam chịu trách nhiệm cuối cùng đảm bảo thanh toán giao dịch chứng khoán của thành viên bù trừ thông qua cơ chế ký quỹ và các biện pháp phòng ngừa rủi ro theo quy định pháp luật.

          – Về yêu cầu ký quỹ đối với nhà đầu tư: Điều 157 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP quy định thành viên bù trừ có nghĩa vụ bảo đảm nhà đầu tư có đủ tài sản ký quỹ bù trừ trước khi thự hiện giao dịch và đủ tiền, chứng khoán để thanh toán giao dịch chứng khoán. Ngoài ra, Điều 26 Thông tư số 119/220/TT-BTC quy định trước khi thực hiện giao dịch chứng khoán, nhà đầu tư phải có đầy đủ tài sản ký quỹ bù trừ theo yêu cầu của thành viên bù trừ. Quy định này trên cơ sở tiếp thu ý kiến của thành viên thị trường, theo đó tạo cơ chế linh hoạt cho thành viên bù trừ trong áp dụng mức ký quỹ đối với từng loại giao dihj, từng đối tượng khách hàng.

          Mô hình thanh toán, bù trừ CCP:

          – Về việc NHLK làm thành viên bù trừ: Bộ Tài chính tiếp thu ý kiến VBF và sẽ tiếp tục kiến nghị Ngân hàng Nhà nước hoàn thiện khung pháp lý về việc ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện chức năng bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán trên thị trường cơ sở, đảm bảo hoạt động ổn định của TTCK.

          – Về việc chuyển/nhận tiền và chứng khoán khi NHLK không làm thành viên bù trừ: Khoản 2 Điều 31 Thông tư số 119/2020/TT-BTC quy định: “ngân hàng lưu ký không phải là thành viên bù trừ có thể quản lý tài sản ký quỹ bù trừ là tiền, chứng khoán của khách hàng trên tài khoản lưu ký của khách hàng tại ngân hàng lưu ký nhưng việc bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán của khách hàng của ngân hàng lưu ký phải được thực hiện trên tài khoản ký quỹ bù trừ mở tại thành viên bù trừ”. Tài sản ký quỹ bù trừ hay tài sản lưu ký đều thuộc sở hữu của nhà đầu tư và được Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam theo dõi chi tiết đến từng nhà đầu tư. Việc lưu giữ tài sản của nhà đầu tư trên tài khoản ký quỹ tại TVBT hoặc chuyển về tài khoản lưu ký lại NHLK do nhà đầu tư quyết định. Trong trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu chuyển thì thực hiện theo thoả thuẫn giữa nhà đầu tư, TVBT và ngân hàng lưu ký.

          Thời hạn triển khai/chuyển tiếp: Tại khoản 14 Điều 310 Nghị định 155/2020/NĐ-CP về điều khoản chuyển tiếp đã quy định: “Các thành viên lưu ký của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt nam được phép tham gia hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán như thành viên bù trừ trực tiếp theo quy định tại Nghị định này trong thời han 12 tháng kể từ ngày chính thức triển khai cơ chế đối tác bù trừ trung tâm. Sau thời hạn này, chỉ thành viên bù trừ mới được tham gia hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán”. Ngoài ra, UBCKNN, VSD sẽ phối hợp với các thành viên thị trường chuẩn bị kỹ lưỡng và thực hiện kiểm thử hệ thống trước khi chính thức triển khai cơ chế CCP đối với thị trường chứng khoán cơ sở.

          (6) Về quỹ ETF:

          Điều 34 Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán đã miễn trừ nghĩa vụ công bố thông tin của quỹ ETF trong giao dịch tái cơ cấu danh muc của chỉ số tham chiếu.

          Về nghĩa vụ công bố thông tin của người có liên quan của người nội bộ quỹ ETF: Khi thực hiện giao dịch hoán đổi CCQ ETF, người nội bộ, người có liên quan của người nội bộ được xem như một nhà đầu tư vào CCQ đại chúng thông thường và thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin theo Điều 33 Thông tư số 96/2020/TT-BTC.

          (7) Người có liên quan

          Khoản 46 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 quy định về khái niệm người có liên quan, trong đó có “tổ chức, cá nhân mà trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân khác trực tiếp, gián tiếp kiểm soát hoặc bị kiểm soát bởi tổ chức, cá nhân đó hoặc cùng với tổ chức, cá nhân đó chịu chung một sự kiểm soát”. Quy định này đã được triển khai từ Luật chứng khoán 2006, nhằm hạn chế các giao dịch thao túng, nội gián trên TTCK.

          (8) Trái phiếu

          – Triển khai Luật Chứng khoán và Luật Doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ về chào bán, giao dịch TPDN riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán TPDN ra thị trưởng quốc tế (Nghị định 153). Căn cứ điều kiện chào bán TPDN riêng lẻ tại Luật Chứng khoán và Luật Doanh nghiệp, Nghị định số 153 đã quy định về hồ sơ, quy trình, thủ tục phát hành TPDN và thống nhất quản lý hoạt động phát hành TPDN riêng lẻ của cả doanh nghiệp đại chúng và doanh nghiệp không đại chúng.

          – Một số quy định về chế độ công bố thông tin và báo cáo tại Nghị định số 153 đã được hoàn thiện để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong triển khai thực hiện thời gian qua như (i) rút ngắn thời gian công bố thông tin trước đợt phát hành từ tối thiểu 10 ngày làm việc xuống tối thiểu 01 ngày làm việc theo kiến nghị của các doanh nghiệp và quy định tại Luật Doanh nghiệp; (ii) giao Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể về thời hạn, nội dung, biểu mẫu công bố thông tin, báo cáo của doanh nghiệp phát hành, tổ chức tư vấn, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, tổ chức đăng ký, lưu ký trái phiếu và Sở GDCK; (iii) làm rõ về nội dung và cách thức công bố thông tin của Sở GDCK Hà Nội trên chuyên trang thông tin về TPDN. Bên cạnh đó, để tăng thanh khoản của trái phiếu và hỗ trợ hoạt động của thị trường sơ cấp TPDN, Nghị định số 153 quy định căn cứ tình hình thị trường Bộ Tài chính sẽ thiết lập thị trường giao dịch TPDN cho các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp tại SGDCK và nâng cấp Chuyên trang thông tin về TPDN riêng lẻ.

          – Về đề xuất liên quan đến đầu tư vào trái phiếu đối với quỹ mở:

          + Hạn mức đầu tư vào một tổ chức phát hành đối với quỹ mở cụ thể như sau: “Không được đầu tư vào chung khoản của một tổ chức phát hành quá 10 % tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của tổ chức đó, trữ trái phiếu Chính phủ” Chứng khoán của một tổ chức phát hành bao gồm cả trái phiếu và cổ phiếu. Quy định này đã được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 110 Luật Chứng khoản 2019, phù hợp với thông lệ quốc tế (UCITs) nhằm đa dạng cơ cấu đầu tư của quỹ, giảm thiểu rủi ro tập trung đối với các khoản đầu tư của quỹ, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

          + Về việc quỹ mở chi được đầu tư vào trái phiếu phát hành ra công chúng được niêm yết nhằm đảm bảo tính thanh khoản của quỹ , do đặc tính của quỹ mở là chứng chỉ quỹ phải được mua lại hoặc chuyển đổi theo yêu cầu của nhà đầu tư. Việc cho phép quỹ mở đầu tư vào trái phiếu phát hành riêng lẻ (trái phiếu này không được niêm yết trên thị trường và tính thanh khoản thấp) sẽ dẫn đến rủi ro công ty quản lý quỹ không thể bán trái phiếu để đáp ứng yêu cầu mua lại của nhà đầu tư khi cần thiết. Hiện nay, Thông tư số 98/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán vẫn cho phép quỹ mở đầu tư vào một số loại trái phiếu chưa niêm yết tuy nhiên có bảo lãnh phát hành hoặc cam kết mua lại để đảm bảo tính thanh khoản của quỹ.

          (9) Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp:

          Khái niệm nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp đã được quy định tại Điều 11 Luật Chứng khoán 2019, bao gồm cả các tổ chức, cá nhân có năng lực tài chính hoặc có trình độ chuyên môn về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

          (10) Tài khoản tổng (omnibus account):

          Theo khoản 2 Điều 145 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP đã cho phép:

          – Công ty chứng khoán nước ngoài đươc cấp 02 mã số giao dịch chứng khoán (MSGD): 01 MSGD cho tài khoản tự doanh và 01 MSGD cho tài khoản môi giới chứng khoán của công ty;

          – Quỹ đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài được quản lý bởi nhiều công ty quản lý quỹ nước ngoài được cấp nhiều MSGD, trong đó mỗi danh mục đầu tư được quản lý bởi một công ty quản lý quỹ nước ngoài thì được cấp 01 MSGD; danh mục đầu tư do quỹ đầu tư, tổ chức nước ngoài tự quản lý được cấp 01 MSGD riêng;

          – Tổ chức đầu tư thuộc chính phủ nước ngoài hoặc tổ chức đầu tư, tài chính thuộc tổ chức tài chính quốc tế mà Việt Nam là thành viên được cấp nhiều MSGD, trong đó mỗi danh mục đầu tư lưu ký tại một ngân hàng lưu ký được cấp 01 MSGD;

          – Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được cấp 01 MSGD để quản lý danh mục đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có có trên 50% vốn đầu tư nước ngoài. Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoản trở thành tổ chức kinh tế có trên 50% vốn đầu tư nước ngoài được cấp thêm 01 MSGD cho hoạt động đầu tư của chính công ty quản lý quỹ;

          – Chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam được cấp 02 MSGD, trong đó 01 MSGD cấp cho chi nhánh , 01 MSGD để quản lý danh mục đầu tư cho NĐTNN.

          (11) Đại lý ký danh (Omnibus agent):

          Thông tư số 98/2020/TT-BTC đã quy định đại lý ký danh thực hiện thanh toán trên cơ sở giá trị chênh lệch giữa lệnh mua và lệnh bán theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 31, điểm d khoản 3 Điều 77 Thông tư 98/2020/TT-BTC.

          (12) Tổ chức lưu ký uỷ thác:

          Hiện nay, Thông tư số 119/2020/TT-BTC không có quy định về “tổ chức lưu kỷ ủy thác ”.

          Đối với hoạt động đầu tư của NĐTNN: NĐTNN được trực tiếp đầu tư trên TTCK Việt Nam (mã số giao dịch chứng khoán đứng tên nhà đầu tư) hoặc thông qua ủy thác đầu tư (mã số giao dịch đứng tên tổ chức nhận ủy thác), Điều 145 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP đã quy định một số trường hợp các tổ chức nước ngoài được mở nhiều mã số giao dịch chứng khoán.

          Về nghĩa vụ của NĐTNN: NĐTNN có trách nhiệm tuân thủ nghĩa vụ báo cáo, công bố thông tin (được quy định tại Thông tư số 96/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về công bố thông tin trên TTCK); cũng như tuân thủ quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài trên thị trường chứng khoán (được quy định tại Nghị định số 155/2020/NĐ-CP).

          (13) Giao dịch trong ngày và giao dịch chứng khoán chờ về:

          Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đã quy định nguyên tắc cho phép triển khai giao dịch trong ngày, giao dịch chờ về. Việc triển khai cụ thể các giao dịch này sẽ được Bộ Tài chính cân nhắc cụ thể khi hoàn thiện hệ thống của SGDCK, VSD; đồng thời đảm bảo tính an toàn của thị trường.

          (14) Sử dụng thông tin nội bộ trong quá trình thẩm định công ty:

          Luật chứng khoán không có quy định cấm công ty cung cấp thông tin để thẩm định công ty.

          Ngoài ra, khoản 44 Điều 4 Luật chứng khoán 2019 đã quy định: Thông tin nội bộ là thông tin liên quan đến công ty đại chúng, tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch, quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng chưa được công bố mà nếu được công bố có thể ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của tổ chức này. Như vậy, những thông tin đã được công bố không còn là thông tin nội bộ.

          (15) Đơn vị tư vấn phát hành chứng khoán:

          Chức năng tư vấn phát hành chứng khoán là hoạt động của công ty chứng khoán đã được quy định tại Luật Chứng khoán 2019.

          (16) Điều kiện niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán:

          Tại điểm d khoản 1 Điều 34 Luật Chứng khoán 2019 đã quy định: Sau 02 năm kể từ ngày giao dịch đầu tiên trên hệ thống Upcom, công ty đại chúng (công ty có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cổ phiêu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn năm giữ) có quyền nộp hồ sơ đăng ký niêm yết chứng khoán.

          Theo điểm b khoản 1 Điều 109 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP quy định một trong các điều kiện niêm yết là: “Công ty đã giao dịch trên Upcom tối thiểu 02 năm, trừ trường hợp tổ chức đăng ký niêm yết đã chào bán cổ phiếu ra công ching, doanh nghiệp có phần hóa”. Như vậy, điều kiện về thời hạn đăng ký giao dịch trên Upcom được miễn trừ cho các công ty đã chào bán cổ phiếu ra công chúng hoặc doanh nghiệp cổ phần hóa.

Công ty đại chúng có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ (không bao gồm trường hợp công ty đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với UBCKNN) phải đăng ký giao dịch cổ phiếu trên hệ thống giao dịch cho chứng khoán chưa niêm yết; sau 02 năm kể từ ngày giao dịch đầu tiên trên hệ thống giao dịch cho chứng khoán chưa niêm yết, công ty đại chúng có quyền nộp hồ sơ đăng ký niêm yết khi đáp ứng các điều kiện niêm yết chứng khoán.

          (17) Niêm yết doanh nghiệp FDI:

          Các quy định về điều kiện niêm yết tại Nghị định số 155/2020/NĐ-CP áp dụng chung đối với các công ty cổ phần được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, không quy định điều kiện niêm yết riêng đối với Doanh nghiệp FDI.