Xử lý thuế đối với tài sản bảo đảm là hàng hóa nhập khẩu miễn thuế

3995/TCHQ-TXNK ngày 11/08/2021

Kính gửi: Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh.

Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 1294/HQHT-NV ngày 20/7/2021 của Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh về việc xử lý thuế đối với tài sản bảo đảm là hàng hóa nhập khẩu miễn thuế của Công ty CP Gang thép Hà Tĩnh. Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
Căn cứ Điều 25 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 quy định tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ quy định đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế bảo vệ môi trường hoặc miễn thuế đã được giải phóng hàng hoặc thông quan nhưng sau đó thay đổi mục đích sử dụng, chuyển tiêu thụ nội địa thì phải khai tờ khai hải quan mới. Chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan mới;
Căn cứ điểm m khoản 4 Điều 17 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định các trường hợp cơ quan hải quan thực hiện ấn định thuế: “Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế, người khai thuế cầm cố, thế chấp để làm tài sản bảo đảm các khoản vay, trường hợp tổ chức tín dụng phải xử lý tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ nhưng người khai thuế chưa kê khai tờ khai hải quan mới, nộp đủ thuế theo quy định của pháp luật về hải quan”;
Căn cứ điểm b khoản 6 Điều 17 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế được cầm cố, thế chấp làm tài sản đảm bảo các khoản vay do người khai thuế không có khả năng trả nợ bị tổ chức tín dụng xử lý theo quy định của pháp luật thuộc các trường hợp phải nộp thuế thì thời hạn nộp thuế là ngày ký ban hành quyết định ấn định thuế;
Căn cứ điểm a khoản 8 Điều 17 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định trách nhiệm của người khai thuế: “… Trường hợp hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế, người khai thuế cầm cố, thế chấp để làm tài sản bảo đảm các khoản vay, người khai thuế chưa kê khai tờ khai hải quan mới, nộp đủ thuế theo quy định của pháp luật về hải quan nhưng tổ chức tín dụng phải xử lý tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ quy định tại điểm m khoản 4 Điều này thì tổ chức tín dụng có trách nhiệm nộp thuế thay cho người khai thuế”;
Căn cứ khoản 6 Điều 30 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn của ngân hàng thương mại: ‘‘Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế, người nộp thuế cầm cố, thế chấp để làm tài sản bảo đảm các khoản vay nhưng ngân hàng thương mại phải xử lý tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ thì ngân hàng thương mại cung cấp thông tin về hàng hóa cầm cố, thế chấp cho cơ quan hải quan để thực hiện ấn định thuế, ngân hàng thương mại có trách nhiệm nộp thuế thay cho người nộp thuế theo quyết định ấn định thuế của cơ quan hải quan”;
Căn cứ điểm b khoản 11 Điều 17 Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 1 Thông tư số 60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019) của Bộ Tài chính quy định trị giá hải quan hàng hóa chưa qua sử dụng tại Việt Nam, có thay đổi mục đích sử dụng so với mục đích đã được xác định thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế: “Trường hợp hàng hóa thay đổi mục đích để bán: trị giá hải quan là trị giá khai báo được xác định trên cơ sở giá thực tế bán. Trường hợp cơ quan hải quan có căn cứ xác định trị giá khai báo không phù hợp thì xác định trị giá hải quan theo phương pháp xác định trị giá quy định tại Thông tư này, phù hợp với thực tế hàng hóa”,
Căn cứ các quy định nêu trên, việc xử lý thuế đối với trường hợp Công ty CP Gang thép Hà Tĩnh được thực hiện như sau:
1. Về xác định số tiền thuế ấn định
a) Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh có văn bản yêu cầu các ngân hàng thương mại đã nhận cầm cố, thế chấp cung cấp thông tin về hàng hóa cầm cố, thế chấp để thực hiện ấn định thuế, trong đó nêu rõ tên hàng, số lượng, chủng loại, số tờ khai nhập khẩu, trị giá khi cầm cố, thế chấp, trị giá thực tế đã bán ra.
b) Trên cơ sở thông tin do ngân hàng cung cấp, cơ quan hải quan thực hiện đối chiếu với các thông tin về hàng hóa nhập khẩu đang được lưu trữ trên hệ thống xử lý dữ liệu điện tử, các chứng từ tài liệu khác có liên quan để xác định số tiền thuế phải nộp đối với số lượng hàng hóa đã bán ra cho từng ngân hàng và thực hiện ban hành quyết định ấn định thuế riêng cho từng ngân hàng theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.
Trị giá tính thuế nhập khẩu là trị giá do ngân hàng cung cấp xác định trên cơ sở giá thực tế bán. Thuế giá trị gia tăng thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng tại thời điểm bán ra.
Thời hạn nộp thuế là ngày ký ban hành quyết định ấn định thuế. 
c) Trường hợp cơ quan hải quan có cơ sở xác định có số lượng hàng hóa nhập khẩu miễn thuế đã được thay đổi mục đích sử dụng nhưng nằm ngoài số lượng hàng hóa cầm cố, thế chấp tại các ngân hàng thì cũng thực hiện ấn định thuế theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.
2. Về nghĩa vụ nộp thuế
Kể từ ngày 05/12/2020 (ngày hiệu lực của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP), đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế, người nộp thuế cầm cố, thế chấp để làm tài sản bảo đảm các khoản vay nhưng ngân hàng thương mại phải xử lý tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ thì ngân hàng thương mại cung cấp thông tin về hàng hóa cầm cố, thế chấp cho cơ quan hải quan để thực hiện ấn định thuế, ngân hàng thương mại có trách nhiệm nộp đủ số tiền thuế theo quyết định ấn định thuế của cơ quan hải quan theo quy định tại Điều 17, Điều 30 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.
Đối với hàng hóa nhập khẩu miễn thuế đã được thay đổi mục đích sử dụng nhưng nằm ngoài số lượng hàng hóa cầm cố, thế chấp tại các ngân hàng (nêu tại điểm c mục 1 công văn này), Công ty CP Gang thép Hà Tĩnh có trách nhiệm nộp đủ số tiền thuế ấn định, tiền phạt, tiền chậm nộp theo quy định tại khoản 8 Điều 17 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.
Tổng cục Hải quan có ý kiến để Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh được biết và thực hiện.