Đăng nhập

XUẤT NHẬP KHẨU

Chiến lược Phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam

84 lượt xem
#1
1. Về cơ chế chính sách
1.1. Chính sách thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất
Pháp luật về thuế, phí và lệ phí hiện hành đã quy định ưu đãi ở mức cao nhất đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên tất cả các khâu từ trồng trọt (sản xuất lúa gạo), nuôi trồng, sản xuất đến chế biến, kinh doanh và tiêu thụ.
Bên cạnh đó, trước ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân ứng phó với dịch bệnh Covid-19 phù hợp với bối cảnh, điều kiện của đất nước, đồng thời tiếp tục thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển kinh tế xã hội và ngân sách nhà nước năm 2020 theo chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã chủ động nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền và ban hành theo thẩm quyền các chính sách thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy sản xuất kinh doanh (trong đó có hoạt động xuất khẩu gạo), tái khởi động nền kinh tế, cụ thể:
a) Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành:
-  Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về gia hạn thời hạn nộp thuế (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh) và tiền thuê đất cho hầu hết các đối tượng là doanh nghiệp, hộ kinh doanh gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.
- Nghị định số 57/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và Nghị định số 125/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP, trong đó đã giảm thuế suất thuế nhập khẩu đối với nhiều nhóm mặt hàng nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển các ngành nông nghiệp, cơ khí, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp ô tô.
- Quyết định số 22/2020/QĐ-TTg ngày 10/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc giảm tiền thuê đất của năm 2020 đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19.
b) Trình Chính phủ, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua: (i) Nghị quyết số 116/2020/QH14 ngày 19/6/2020 về giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỷ đồng; (ii) Nghị quyết số 107/2020/QH14 ngày 10/6/2020 về tiếp tục miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đến hết năm 2025; (iii) Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 ngày 02/6/2020 về điều chỉnh tăng mức giảm trừ gia cảnh để giảm nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân.
c) Đề xuất với Chính phủ việc điều chỉnh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ rà soát, xây dựng trình Chính phủ cũng như ban hành theo thẩm quyền: 02 Nghị định (về lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ), 22 Thông tư để sửa đổi 31 Thông tư thu phí, lệ phí hiện hành theo hướng miễn hoặc giảm mức thu nhiều khoản phí, lệ phí để hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân.
đ) Ngày 09/7/2020, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 65/2020/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 302/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về lệ phí môn bài, trong đó có bổ sung hướng dẫn về chính sách ưu đãi lệ phí môn bài đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 22/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ; Ban hành một số Thông tư để hướng dẫn giảm phí, lệ phí.
1.2. Về chính sách bảo hiểm
Bộ Tài chính đã phối hợp cùng với Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định số 58/2018/NĐ-CP) nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý ổn định, minh bạch, thống nhất và các quy định mang tính đặc thù phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho việc thực hiện bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) trong đó bao gồm sản xuất lúa gạo.
Triển khai Nghị định số 58/2018/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 26/6/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg về thực hiện chính sách hỗ trợ BHNN. Theo đó, cây lúa thuộc đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ phí BHNN, mức hỗ trợ từ 20% - 90% phí BHNN cho cá nhân, tổ chức sản xuất nông nghiệp đáp ứng các điều kiện cụ thể về hợp tác, liên kết, quy mô lớn có ứng dụng công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường.
1.3. Về chính sách đất đai
Việc miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Nghị định số 135/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Nghị định số 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Theo đó, việc ưu đãi (miễn, giảm) tiền thuê đất được thực hiện đối với các trường hợp thuê đất trực tiếp với Nhà nước và theo dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư gồm sản xuất kinh doanh lúa gạo theo quy định của pháp luật về đầu tư.
Ngoài ra, để tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 về việc gia hạn thời gian nộp thuế và tiền thuê đất; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 22/2020/NĐ-CP ngày 10/8/2020 về việc giảm tiền thuê đất của năm 2020 đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 theo Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ.
1.4. Chính sách về tín dụng
a) Về chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước
Ngày 31/3/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về tín dụng đầu tư của Nhà nước (Nghị định số 32/2017/NĐ-CP), trong đó quy định:
- Ngân hàng Phát triển là cơ quan thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước.
- Các dự án thuộc Danh mục vay vốn tín dụng đầu tư bao gồm:
  Dự án đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng sử dụng công nghệ sạch; Dự án ứng dụng công nghệ cao, dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao theo danh mục công nghệ cao do Thủ tướng Chính phủ ban hành; Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ của doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật hiện hành; Dự án đầu tư thuộc Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Các dự án đầu tư tổ chức thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; Dự án tại vùng đồng bào dân tộc Khơ me sinh sống tập trung, các xã thuộc Chương trình 135 và các xã biên giới thuộc Chương trình 120, các xã vùng bãi ngang (không bao gồm dự án nhiệt điện, sản xuất xi măng, sắt thép; dự án đầu tư đường bộ, cầu đường bộ, đường sắt và cầu đường sắt).
  Căn cứ quy định như trên, trường hợp các thương nhân đầu tư lĩnh vực sản xuất lúa gạo đáp ứng các quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP của Chính phủ sẽ thuộc đối tượng được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước.
b) Về chính sách tín dụng xuất khẩu của Nhà nước
Ngân hàng Phát triển đã dừng cho vay tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP của Chính phủ nêu trên.
c) Về chính sách tín dụng thương mại
Ngày 14/11/2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp. Theo đó NSTW: (i) hỗ trợ 100% lãi suất trong 02 năm đầu, 50% lãi suất trong năm thứ ba cho vốn vay thương mại đối với các khoản vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn bằng đồng Việt Nam để mua máy, thiết bị nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; (ii) hỗ trợ phần chênh lệch giữa lãi suất thương mại đối với các khoản vay dài hạn, trung hạn bằng đồng Việt Nam và lãi suất tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để thực hiện các dự án đầu tư dây chuyền máy, thiết bị giảm tổn thất trong nông nghiệp (bao gồm cả nhà xưởng); các dự án chế tạo máy, thiết bị sản xuất nông nghiệp.
1.5. Về kinh doanh xuất khẩu gạo
a) Về ủy thác xuất khẩu gạo
Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 đã quy định việc ủy thác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Điều 50.
b) Về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo
Việc xuất khẩu gạo tại Việt Nam được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 107/2018/NĐ-CP ngày 15/8/2018 của Chính phủ. Theo đó, thương nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, nếu đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định này và được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, có quyền được kinh doanh xuất khẩu gạo theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
c) Về dự trữ lưu thông
Điều 12 Nghị định số 107/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định “Thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải thường xuyên duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 5% số lượng gạo mà thương nhân đã xuất khẩu trong 06 tháng trước đó”.
1.6. Một số cơ chế chính sách hỗ trợ khác liên quan đến hỗ trợ hợp tác xã và người nông dân trồng lúa
a) Về hỗ trợ thành lập mới, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hợp tác xã
Từ năm 2017, kinh phí hỗ trợ thành lập mới, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hợp tác xã được bố trí từ nguồn kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo quy định tại Quyết định số 2261/QĐ-TTg ngày 15/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020. Kinh phí được phân bổ để chi hỗ trợ bồi dưỡng cán bộ quản lý và thành viên hợp tác xã qua các năm như sau: năm 2016 là 35 tỷ, năm 2017 là 40 tỷ đồng, năm 2018 là 52 tỷ đồng, năm là 2019 là 73 tỷ đồng, năm 2020 là 110 tỷ đồng.
Đối với Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, hàng năm, ngân sách nhà nước bố trí kinh phí để thực hiện hỗ trợ bồi dưỡng cán bộ quản lý và thành viên hợp tác xã để thực hiện Quyết định số 2261/QĐ-TTg ngày 15/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ từ kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, như sau: năm 2018: 4 tỷ đồng, năm 2019: 5 tỷ đồng.
b) Về chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
Nguồn kinh phí hỗ trợ Chương trình hỗ trợ phát triển HTX giai đoạn 2015-2020 theo Quyết định số 2261/QĐ-TTg ngày 15/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ được lồng ghép trong Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 về việc phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 và Quyết định số 12/2017/QĐ-TTg ngày 22/4/2017 về việc ban hành quy định, nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.
c) Cơ chế hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi
Từ năm 2017 đến nay theo Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 chính sách thủy lợi phí chuyển sang chính sách giá dịch vụ thủy lợi.
- Ngày 02/5/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2018/NĐ-CP quy định về hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi áp dụng trong thời gian chuyển tiếp từ 01/01/2017 đến 30/6/2018 (trước khi Luật Thủy lợi có hiệu lực thi hành).
- Ngày 30/6/2018 Chính phủ ban hành Nghị định số 96/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi.
- Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 73/2018/TT-BTC ngày 15/8/2018 hướng dẫn sử dụng nguồn tài chính trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi sử dụng vốn Nhà nước.
- Hàng năm, ngân sách nhà nước chi kinh phí (6914 tỷ đồng/năm từ năm 2019 đến năm 2021) để hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân trồng lúa để thanh toán tiền tưới tiêu nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và lúa gạo.
d) Về hỗ trợ vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai
Hiện nay, nội dung hỗ trợ này thực hiện theo Nghị định số 02/2017/NĐ-CP ngày 09/01/2017 của Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.
2. Thực tế triển khai
2.1. Những năm qua chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân trồng lúa được các địa phương đánh giá cao và đồng tình, ủng hộ, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người dân, cải thiện đời sống nông dân, đặc biệt là các hộ nghèo, giúp giảm bớt chi phí sản xuất nông nghiệp, có điều kiện đầu tư sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi; góp phần quan trọng giảm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất lương thực, tái cơ cấu trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp trong đó có lĩnh vực lúa gạo. Tuy nhiên, vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, ngoài giá vật tư, phân bón tăng cao, các chi phí khác như làm đất, công gieo cấy cũng tăng. Đặc biệt do biến đổi khí hậu, kéo theo thiên tai, dịch bệnh triền miên tiềm ẩn rủi ro, ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, chất lượng cây trồng; do đó, rất cần các chính sách kịp thời để hỗ trợ người dân trồng lúa, doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu gạo.
2.2. Chính sách thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất
Đặt trong tổng thể các giải pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân đã được ban hành và triển khai thực hiện vào thực tế, các giải pháp hỗ trợ về thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất nêu trên được đánh giá là kịp thời, có tác động tích cực và được cộng đồng doanh nghiệp, người dân đánh giá cao, góp phần tháo gỡ khó khăn, ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh và duy trì tăng trưởng, cụ thể trong năm 2020, tổng số tiền thuế và thu ngân sách đã gia hạn, miễn, giảm theo chính sách đã ban hành khoảng 123,6 nghìn tỷ đồng (trong đó số tiền thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất được gia hạn khoảng 87,2 nghìn tỷ đồng; số được miễn, giảm khoảng 36,4 nghìn tỷ đồng).
2.3. Về chính sách bảo hiểm
Hiện nay, có 02 doanh nghiệp bảo hiểm là Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt và Tổng công ty cổ phần Bảo Minh được Bộ Tài chính phê chuẩn sản phẩm BHNN để thực hiện chính sách hỗ trợ BHNN. Các sản phẩm BHNN được phê chuẩn gồm sản phẩm bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất. Các doanh nghiệp bảo hiểm đang triển khai tại các địa phương thuộc địa bàn được hỗ trợ phí BHNN.
Theo báo cáo của các doanh nghiệp bảo hiểm, cho đến nay việc triển khai cấp đơn bảo hiểm nông nghiệp cho các đối tượng được hỗ trợ mới chỉ có kết quả nhất định, cụ thể như sau: Nghệ An triển khai bảo hiểm cây lúa tại 102 xã (trong tổng số 246 xã của 8 huyện được lựa chọn địa bàn hỗ trợ); tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm: 7.291 (12,6% hộ nghèo, 53,4% hộ cận nghèo, 34% hộ thường); tổng giá trị được bảo hiểm: 39,1 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm: 2 tỷ đồng; đang hoàn thiện hồ sơ để chi trả bồi thường cho vụ hè thu. Hà Giang triển khai bảo hiểm trâu, bò tại 29 xã, thị trấn của 3 huyện được lựa chọn địa bàn hỗ trợ với số liệu ước như sau: tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm: 1.524 (trong đó có 1 hộ thường, còn lại là hộ nghèo và hộ cận nghèo); tổng giá trị được bảo hiểm: 30,45 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm: 1,12 tỷ đồng.
2.4. Về chính sách tín dụng
a) Về chính sách tín dụng đầu tư, xuất khẩu của Nhà nước
Theo báo cáo của Ngân hàng Phát triển, từ năm 2017 đến nay Ngân hàng Phát triển không thực hiện cho vay đối với các dự án mới thuộc Danh mục vay vốn tín dụng đầu tư theo Nghị định số 32/2017/NĐ-CP của Chính phủ.
b) Về chính sách tín dụng thương mại:
Theo báo cáo của các ngân hàng thương mại, cho tới thời điểm hiện nay, có 06 ngân hàng thương mại thực hiện cho vay (Agribank, VCB, BIDV, Vietinbank, ACB, Liên Việt) theo chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp, tuy nhiên không được Bộ Kế hoạch và Đầu tư bố trí dự toán kinh phí cấp bù lãi suất nên không có nguồn để thực hiện, trừ Ngân hàng Nông nghiệp là đơn vị duy nhất được bố trí dự toán (nhưng dự toán hàng năm rất ít không đủ để thưc hiện chính sách). Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, số còn phải cấp bù chênh lệch lãi suất, hỗ trợ lãi suất cho các ngân hàng thương mại thực hiện các chương trình chính sách tín dụng của Nhà nước (bao gồm cả chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) là 2.025.577.196 đồng.
2.5. Về kinh doanh xuất khẩu gạo
a) Về ủy thác xuất khẩu gạo
Nghị định số 107/2018/NĐ-CP ngày 15/8/2018 của Chính phủ chưa quy định cụ thể về việc đáp ứng điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo đối với các bên ủy thác và bên nhận ủy thác. Thực tế có trường hợp một Công ty (có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo) nhận ủy thác, làm dịch vụ nhận ủy thác xuất khẩu gạo cho rất nhiều doanh nghiệp khác (không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu gạo).
b) Về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo
Nghị định số 107/2018/NĐ-CP ngày 15/8/2018 của Chính phủ không giới hạn số lượng gạo thương nhân được phép sản xuất, xuất khẩu phù hợp với các điều kiện về kho chứa và cơ sở xay, xát, chế biến thóc gạo. Điều này dẫn đến trường hợp, khi số lượng gạo cần sản xuất, xuất khẩu vượt quá năng lực cho phép, thương nhân sẽ thu mua của các đơn vị khác.
c) Về dự trữ lưu thông
Nghị định số 107/2018/NĐ-CP của Chính phủ không quy định cụ thể (i) đơn vị chịu trách nhiệm xác nhận mức dự trữ để làm cơ sở thanh tra, kiểm tra; (ii) trường hợp doanh nghiệp không đáp ứng quy định tại Điều 12 Nghị định số 107/2018/NĐ-CP của Chính phủ.
3. Kiến nghị, đề xuất
Trong thời gian tới, để tiếp tục hỗ trợ sản xuất kinh doanh nói chung và thúc đẩy phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam nói riêng, Bộ Tài chính kiến nghị, đề xuất như sau:
3.1. Đối với chính sách về thuế, phí và lệ phí, Bộ Tài chính sẽ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan: (i) Tiếp tục thực hiện giảm mức thu một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19 trong năm 2021 theo Thông tư số 112/2020/TT-BTC ngày 29/12/2020 của Bộ Tài chính; (ii) Trình Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn việc cho phép được tính vào chi phí được trừ của doanh nghiệp, tổ chức các khoản chi ủng hộ, tài trợ cho các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19 khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng cho năm 2020 và 2021 (Bộ Tài chính đã có Tờ trình số 13/TTr-BTC ngày 01/2/2021); (iii) Trình Chính phủ ban hành Nghị định tiếp tục gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất trong năm 2021 cho các đối tượng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19.
3.2. Đối với các chính sách về tín dụng: Trong điều kiện ngân sách Nhà nước còn gặp nhiều khó khăn như hiện nay, đề nghị không bổ sung chính sách tín dụng ưu đãi cấp bù lãi suất, việc ưu đãi tín dụng đề nghị thực hiện theo các chính sách hiện hành. Trường hợp bổ sung chính sách tín dụng ưu đãi thì đảm bảo bố trí đủ nguồn cấp bù chênh lệch lãi suất cho các ngân hàng.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư bố trí đủ kinh phí cho các ngân hàng thương mại đối với các chương trình tín dụng chính sách đã và đang triển khai thực hiện.
3.3. Đề nghị Bộ Công Thương xem xét, hoàn thiện chính sách quản lý đối với các mặt hàng gạo trong đó sửa đổi Nghị định số 107/2018/NĐ-CP ngày 15/8/2018 của Chính phủ và các văn bản liên quan đến mặt hàng gạo, vừa đảm bảo yêu cầu quản lý, đảm bảo yêu cầu về định mức dự trữ quốc gia về lương thực (theo Quyết định số 1975/QĐ-TTg ngày 02/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch hành động thực hiện Kết luận số 81-KL/TW ngày 29 tháng 7 năm 2020 của Bộ Chính trị về "Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030"), vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình làm thủ tục xuất khẩu, làm cơ sở cho việc phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn tiếp theo.


Xem thêm
2021-06-24, 13:06 PM » Cẩm nang hướng dẫn xuất nhập khẩu sang thị trường Trung Quốc
2021-06-17, 14:06 PM » Tình hình triển khai và kết quả thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020
2021-06-15, 09:06 AM » Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu và cân bằng cán cân thương mại
2021-06-07, 13:06 PM » Rà soát, đánh giá nghĩa vụ thực hiện lộ trình cam kết tại các FTA của Việt Nam
2021-05-29, 16:05 PM » Phiên rà soát chính sách thương mại của Việt Nam (lần 3)
2021-05-13, 09:05 AM » Thuốc lá, rượu nhập khẩu và sản xuất trong nước phải dán tem điện tử
2021-04-15, 04:04 AM » Tình hình thực hiện Hiệp định tạo thuận lợi thương mại WTO của Việt Nam
2021-03-16, 01:03 AM » THỦ TỤC XUẤT KHẨU BƠM TIÊM DÙNG MỘT LẦN BẰNG NHỰA
2021-02-11, 08:02 AM » Kết quả triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và kết nối Cơ chế một cửa ASEAN
2021-02-10, 22:02 PM » Tình hình thực hiện Hiệp định Việt Nam-Campuchia vận tải thủy



Users browsing this thread: 1 Guest(s)