Đăng nhập

XUẤT NHẬP KHẨU

Phiên rà soát chính sách thương mại của Việt Nam (lần 3)

88 lượt xem
#1
11. Việt Nam có cam kết tuân thủ Hiệp định trị giá hải quan của WTO (CVA) nhằm tránh các vấn đề phát sinh về trị giá hải quan, đặc biệt là tuân thủ hệ thống phân cấp phương pháp luận trị giá được quy định trong CVA không?
Trả lời:
Các quy định và tài liệu kỹ thuật của WTO (Customs Valuation Agreement) đã được Hải quan Việt Nam nội luật hóa và tuân thủ đầy đủ, bao gồm các phương pháp và trình tự áp dụng các phương pháp xác định trị giá hải quan.


13. Việt Nam có thể cho biết liệu có bất kỳ thay đổi nào được lên kế hoạch về thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc cách đánh thuế có hiệu quả làm tăng thuế suất không? Việt Nam có thể đảm bảo rằng mọi thay đổi sẽ được thực hiện một cách minh bạch và không phân biệt đối xử không?
Trả lời:
Việt Nam đã gia nhập WTO vào năm 2007. Thực hiện quy tắc về không phân biệt đối xử quốc gia (nguyên tắc NT) đối với hàng hoá trong nước và nhập khẩu, Việt Nam đã sửa đổi Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt theo hướng không phân biệt đối xử đối với mặt hàng sản xuất trong nước và hàng hoá nhập khẩu. Trường hợp có sự thay đổi về chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt trong thời gian tới, Việt Nam đảm bảo sẽ sửa đổi trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc NT và tuân thủ các quy trình, quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam.


14. Việt Nam Có kế hoạch thay đổi danh mục sản phẩm đang áp dụng thuế bảo vệ môi trường không?
Trả lời:
Thuế bảo vệ môi trường là khoản thu đối với sản phẩm, hàng hóa (đối tượng chịu thuế) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường. Do thuế bảo vệ môi trường là khoản thu mới trong hệ thống chính sách thuế của Việt Nam nên tại Luật bảo vệ môi trường quy định 8 nhóm hàng hóa, sản phẩm thuộc đối tượng chịu thuế.
Hiện nay, Bộ Tài chính đang tiến hành tổng kết đánh giá tình hình thực hiện chính sách thuế bảo vệ môi trường và đánh giá mức độ gây ô nhiễm môi trường của các hàng hóa khi sử dụng gây ô nhiễm môi trường để làm cơ sở đề xuất sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới nhằm đảm bảo chính sách thuế bảo vệ môi trường là một công cụ  kinh tế quan trọng góp phần hạn chế việc sản xuất và sử dụng hàng hóa gây ô nhiễm môi trường.


3. 65. Chương III Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định điều kiện, nguyên tắc và thời hạn áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Luật Quản lý ngoại thương là luật chính điều chỉnh các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ ở Việt Nam...
3.69. Khoản 5 Điều 70 Luật Quản lý ngoại thương và Điều 8 Thông tư số 37/2019/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định việc công bố thông tin trong quá trình khởi kiện, điều tra và ban hành quyết định áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại . Theo đó, thông tin về việc khởi xướng và quyết định cuối cùng được công bố trên trang web của Cục Phòng vệ Thương mại Việt Nam và Bộ Công Thương...
Câu hỏi: Có thể lập tờ trình hoàn thuế chống bán phá giá đã áp cho công ty khi nộp giấy chứng nhận xuất xứ sau này không?
Trả lời:
Căn cứ điểm a, điểm d khoản 1, điểm c khoản 4 Điều 4 Thông tư số 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính quy định: Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu phải nộp cho cơ quan hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08/03/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa có trường hợp hàng hóa thuộc diện Việt Nam thông báo đang ở trong thời điểm áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, các biện pháp tự vệ, biện pháp hạn ngạch thuế quan, biện pháp hạn chế số lượng, để xác định hàng hóa không thuộc diện áp dụng các thuế này, người khai hải quan nộp cho cơ quan hải quan: 01 bản chính C/O.
Trường hợp người khai hải quan không nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều này thì hàng hóa phải áp dụng thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp hoặc thuế tự vệ hoặc thuế suất ngoài hạn ngạch thuế quan đối với toàn bộ lô hàng và được thông quan theo quy định.
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số 38/2018/TT-BTC quy định hàng hóa thuộc diện Việt Nam thông báo đang ở trong thời điểm áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, các biện pháp tự vệ, biện pháp hạn ngạch thuế quan, biện pháp hạn chế số lượng người khai hải quan nộp C/O tại thời điểm làm thủ tục hải quan.
Tại Thông báo đính kèm các quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Bộ Công Thương đều quy định khi làm thủ tục hải quan cơ quan Hải quan thực hiện kiểm tra chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa.
Như vậy, đối với hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng thuế chống bán phá giá theo các quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Bộ Công Thương thì người khai hải quan phải nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) tại thời điểm làm thủ tục hải quan. Trường hợp, tại thời điểm làm thủ tục hải quan doanh nghiệp không xuất trình được C/O thì áp dụng mức thuế chống bán phá giá theo quy định. Doanh nghiệp không được hoàn thuế chống bán phá giá đã nộp khi nộp giấy chứng nhận xuất xứ sau thời điểm làm thủ tục hải quan.


1. Dựa vào văn bản, đề nghị Việt Nam trình bày thêm:
a) Có phải tất cả các chương trình bảo lãnh tại Việt Nam đều do công ty bảo hiểm cung cấp hay không?
b) Có công ty bảo lãnh (guarantee company) tại Việt Nam không? Nếu có, sự khác biệt (trong sơ đồ kinh doanh bảo lãnh) giữa công ty bảo lãnh và công ty bảo hiểm là gì?
Trả lời:
Tại khoản 2, Điều 4, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP có nêu rõ, bảo hiểm bảo lãnh là một nghiệp vụ bảo hiểm của lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ. Hiện nay, ở Việt Nam có 09 doanh nghiệp bảo hiểm và 01 Chi nhánh Công ty Bảo hiểm Bảo lãnh Seoul tại Hà Nội (SGI Hà Nội) được Bộ Tài chính Việt Nam cấp phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm bảo lãnh.


14. Với tốc độ phát triển của ngành bảo hiểm tại Việt Nam kể từ lần đánh giá trước, đề nghị Việt Nam cho biết thêm về các câu hỏi sau:
a) Vai trò của công nghệ trong ngành bảo hiểm Việt Nam như thế nào?
b) Có công ty insurtech (công nghệ bảo hiểm) nào ở Việt Nam không?
c) Triển vọng của ngành bảo hiểm Việt Nam trong tương lai là gì?
d) Việt Nam có quy định nào về việc sử dụng công nghệ thông tin trong ngành bảo hiểm không?
e) Cách tiếp cận quy định liên quan đến việc bán bảo hiểm xuyên biên giới được cung cấp trực tuyến là gì?
f) Có loại hình công nghệ tài chính nào khác đang hoạt động tại Việt Nam không? Vui lòng giải thích thêm về sự phát triển hiện tại và triển vọng tương lai của nó.
Trả lời:
- Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam chủ yếu triển khai kinh doanh bảo hiểm qua giao dịch điện tử dưới các hình thức đơn giản như trực tiếp từ trang web của Công ty, qua trang điện tử của bên thứ ba, ứng dụng thanh toán như ví điện tử, qua tin nhắn, tổng đài điện thoại. Các quy định hiện hành về giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm chưa được quy định tại Luật chuyên ngành; Điều 38 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP cho phép doanh nghiệp bảo hiểm bán sản phẩm bảo hiểm thông qua giao dịch điện tử, Nghị định 165/2018/NĐ-CP về Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính đã quy định rõ phạm vi và đối tượng áp dụng đối với các giao dịch điện tử trong lĩnh vực tài chính.
- Tại Việt Nam, hiện chưa có công ty bảo hiểm insurtech được cấp phép thành lập và hoạt động. Hiện nay, Bộ Tài chính đang trong quá trình xây dựng Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội thông qua vào năm 2022 và có hiệu lực vào năm 2023. Dự kiến sẽ đưa ra các quy định về nguyên tắc và yêu cầu đối với các doanh nghiệp bảo hiểm về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.


15. Việt Nam có thể nêu chi tiết về các loại hình dịch vụ bảo hiểm phụ trợ được quy định tại Việt Nam?
Trả lời:
Chi tiết các quy định về các loại hình phụ trợ bảo hiểm được quy định tại khoản 1, Điều 1 Luật số 42/2019/QH14 về Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ, cụ thể như sau:
-  Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm là bộ phận cấu thành của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, do doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tổ chức, cá nhân khác thực hiện nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm tư vấn bảo hiểm, đánh giá rủi ro bảo hiểm, tính toán bảo hiểm, giám định tổn thất bảo hiểm, hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm.
- Tư vấn bảo hiểm là hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn về chương trình bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm, quản trị rủi ro bảo hiểm và đề phòng, hạn chế tổn thất.
- Đánh giá rủi ro bảo hiểm là hoạt động nhận diện, phân loại, đánh giá tính chất và mức độ rủi ro, đánh giá việc quản trị rủi ro về con người, tài sản, trách nhiệm dân sự làm cơ sở tham gia bảo hiểm.
- Tính toán bảo hiểm là hoạt động thu thập, phân tích số liệu thống kê, tính phí bảo hiểm, dự phòng nghiệp vụ, vốn, biên khả năng thanh toán, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, xác định giá trị doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm.
- Giám định tổn thất bảo hiểm là hoạt động xác định hiện trạng, nguyên nhân, mức độ tổn thất, tính toán phân bổ trách nhiệm bồi thường tổn thất làm cơ sở giải quyết bồi thường bảo hiểm.
- Hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm là hoạt động hỗ trợ bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng hoặc doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện các thủ tục giải quyết bồi thường bảo hiểm.


16. Liệu các công ty nước ngoài có thể cung cấp các dịch vụ bảo hiểm phụ trợ, ví dụ như một công ty nền tảng thương mại điện tử không?
Trả lời:
Việc cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới quy định tại Khoản 6 Điều 1 Luật số 42/2019/QH14.
Đối tượng cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới quy định tại Khoản 11 Điều 1 Nghị định số 80/2019/NĐ-CP. 
Điều kiện cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới, phương thức thực hiện cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam, trách nhiệm của đối tượng cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới, trách nhiệm của các đối tượng liên quan đến việc cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới quy định tại Khoản 12, 13, 14 và 15 Nghị định số 80/2019/NĐ-CP.
Cụ thể các quy định trên như sau:
- Đối tượng cung cấp dịch vụ bảo hiểm, môi giới bảo hiểm qua biên giới (sau đây gọi là cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới) là doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài có trụ sở chính tại quốc gia mà Việt Nam và quốc gia đó đã ký kết các điều ước quốc tế về thương mại trong đó có thỏa thuận về cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam.
- Đối tượng cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới là cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm qua biên giới, tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới (doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tổ chức khác có tư cách pháp nhân) theo quy định tại các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trong đó có thỏa thuận về cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới (Khoản 11 Điều 1 Nghị định số 80/2019/NĐ-CP)
Khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ quy định:
1. Cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Có văn bằng từ đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm. Trường hợp không có văn bằng từ đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm thì phải có văn bằng từ đại học trở lên về chuyên ngành khác và chứng chỉ về tư vấn bảo hiểm do cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp ở trong nước hoặc ở nước ngoài cấp.
Tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có tư cách pháp nhân, được thành lập và hoạt động hợp pháp;
b) Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động phụ trợ bảo hiểm trong tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải có đủ các điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; có văn bằng, chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm phù hợp với loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm thực hiện do cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp ở trong nước hoặc ở nước ngoài cấp.
Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động giám định tổn thất bảo hiểm còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn của giám định viên theo quy định của pháp luật về thương mại.
Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động tính toán bảo hiểm còn phải đáp ứng tiêu chuẩn về tuân thủ pháp luật, đạo đức, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm về hành nghề tính toán bảo hiểm, tư cách thành viên của Hội các nhà tính toán bảo hiểm quốc tế.


17. Sản phẩm liên quan đến bảo hiểm khác có được cung cấp bởi công ty bảo hiểm hoặc các tổ chức khác không? (Is other insurance-related product provided by insurance company or other institutions?)
Trả lời:
Bộ Tài chính không rõ nội dung câu hỏi. Đề nghị phía bạn làm rõ để Bộ Tài chính cung cấp câu trả lời.


18. Việt Nam có hệ thống lương hưu không? Việt Nam có thể giải thích thêm về hệ thống hưu trí của Việt Nam (nguyên tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức và luật pháp, bảo lãnh của nhà nước, v.v.).
Trả lời:
- Hiện nay, Nhà nước đang phát triển hệ thống an sinh xã hội đa tầng, đa lớp. Theo đó, chính sách bảo hiểm hưu trí của Việt Nam bao gồm (i) chính sách bảo hiểm hưu trí bắt buộc được thực hiện thông qua Bảo hiểm xã hội Việt Nam; và (ii) chính sách bảo hiểm hưu trí tự nguyện.
- Đối với chính sách bảo hiểm hưu trí tự nguyện, theo Đề án hình thành và phát triển chương trình hưu trí tự nguyện tại Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 144/QĐ-TTg ngày 20/1/2014 và Luật Bảo hiểm xã hội, sản phẩm hưu trí tự nguyện bao gồm 02 loại: (i) sản phẩm bảo hiểm hưu trí theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn luật; và (ii) quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện.
- Về quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện. Triển khai thực hiện Nghị định số 88, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 86/2017/TT-BTC ngày 15/8/2017 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 88. Theo đó, khung khổ pháp lý về thành lập và hoạt động quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện đã được ban hành đầy đủ. Đến nay, Bộ Tài chính đã cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện cho 02 doanh nghiệp và đang phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để xem xét các hồ sơ tiếp theo.
Đối với chế độ lương hưu được chi trả từ quỹ Bảo hiểm xã hội; quỹ Bảo hiểm xã hội do cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý, cụ thể:
a) Theo khoản 4 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, quỹ Bảo hiểm xã hội  là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Theo Điều 4 Luật Bảo hiểm xã hội, người tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc có các chế độ “ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất” và người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện có các chế độ “hưu trí, tử tuất”.
Khoản 4 Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội, quỹ Bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
Nhà nước bảo hộ quỹ  Bảo hiểm xã hội và có biện pháp bảo toàn, tăng trưởng quỹ (khoản 3 Điều 6 Luật Bảo hiểm xã hội).
b) Về tổ chức của cơ quan Bảo hiểm xã hội:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật Bảo hiểm xã hội, cơ quan Bảo hiểm xã hội là cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng các quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm tự nguyện, Bảo hiểm y tế thanh tra việc đóng Bảo hiểm xã hội, BHTN, BHYT và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này.
Theo Nghị định số 89/2020/NĐ-CP, Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm tự nguyện; quản lý và sử dụng các quỹ: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm tự nguyện, Bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành việc đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật (Điều 1) có nhiệm vụ, quyền hạn (Điều 2): Tiếp nhận hồ sơ, giải quyết các chế độ ốm đau, thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất; dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản và sau khi điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; khám, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.


19. Việt Nam có thể trình bày cụ thể hơn về những thay đổi chính của thị trường bảo hiểm, là kết quả của việc thực hiện chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm?
Trả lời:
Một số thông tin về thị trường bảo hiểm giai đoạn 2016-2020 như sau:
- Tính đến nay, thị trường bảo hiểm có 73 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Trong đó, có 31 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 01 chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài; 19 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 02 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 20 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
- Tổng tài sản của toàn thị trường tăng trưởng bình quân 23,2% trong giai đoạn 2016-2020, ước đạt 574.108 tỷ đồng năm 2020.
- Tổng doanh thu ngành bảo hiểm tăng bình quân 21,5%/năm giai đoạn 2016-2020, ước đạt 185.651 tỷ đồng năm 2020.
- Tổng vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng bình quân 20,8%/năm giai đoạn 2016-2020, ước đạt 115.945 tỷ đồng năm 2020.
Hiện nay có khoảng 2.894 sản phẩm, trong đó phi nhân thọ: 2.350 sản phẩm, nhân thọ: 544 sản phẩm. Ngoài việc phát triển về số lượng, sản phẩm bảo hiểm được phát triển theo hướng ngày càng đa dạng và linh hoạt, thực hiện cho tất cả 7 nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, 11 nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ và 3 nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe.

20. Tác động của việc sửa đổi Luật Kinh doanh bảo hiểm đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các công ty nước ngoài hoặc các công ty địa phương do nước ngoài làm chủ sở hữu?
Trả lời:
Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành và Dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) áp dụng đối với các doanh nghiệp bảo hiểm được cấp phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam và không phân biệt đối với các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn chủ sở hữu có yếu tố nước ngoài và sở hữu trong nước.


21. Việt Nam có các quy định bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm không? Đề nghị Việt Nam giải thích rõ các quy định, nếu có.
Trả lời:
Quy định về quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm được quy định tại Điều 18, Chương II Luật Kinh doanh bảo hiểm, cụ thể như sau:
Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm
1. Bên mua bảo hiểm có quyền:
a) Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm;
b) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm;
c) Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 19, khoản 1 Điều 20 của Luật này;
d) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
đ) Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp luật;
e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
(Khoản 3 Điều 19 quy định: 3. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật.
Khoản 1 Điều 20 quy định: 1. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm.)
2. Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ:
a) Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
b) Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;
c) Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;
d) Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
đ) áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.


5) Theo mục 3.100 của Báo cáo, tính đến tháng 6 năm 2019, Việt Nam có 4 khu chế xuất (KCX). Theo Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan, các công ty nằm trong KCX được ưu đãi. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 19 Luật Đầu tư Việt Nam, hỗ trợ tín dụng được coi là một trong những hình thức hỗ trợ đầu tư.
Câu hỏi: Đề nghị Việt Nam cho biết rõ có hỗ trợ tín dụng nào cho các Khu chế xuất dành riêng cho mục đích xuất khẩu không? Nếu vậy, các điều kiện chính của việc cung cấp tín dụng, các điều khoản và lãi suất là như thế nào?
Trả lời:
Về hỗ trợ tín dụng của Nhà nước, Bộ Tài chính trả lời như sau: Theo quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước, Ngân hàng phát triển Việt Nam chỉ thực hiện cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước, không thực hiện cho vay vốn tín dụng xuất khẩu của Nhà nước (kể cả vốn tín dụng xuất khẩu dành cho khu chế xuất).
Đối với các hình thức hỗ trợ tín dụng khác (nếu có), đề nghị Bộ Công Thương lấy ý kiến Ngân hàng Nhà nước.


4. Xin cho biết cụ thể về chính sách điều chỉnh giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như thông tin tại đoạn 18 của Báo cáo Ban Thư ký? Thuế suất thực tế của thuế thu nhập doanh nghiệp sau khi giảm thuế là bao nhiêu?
Trả lời:
Hiện hành, thuế suất phổ thông của Việt Nam là 20%, trường hợp dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực ưu đãi thuế hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư thì thu nhập từ dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Điều 13, Điều 14 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7, khoản 8 Điều 1 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp số 32/2013/QH13 và Điều 1 Luật số 71/2014/QH13). Các mức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:
- Thuế suất ưu đãi 10% trong suốt thời gian hoạt động.
- Thuế suất 10% trong 15 năm kể từ khi có doanh thu, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm kể từ khi có thu nhập và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 9 năm tiếp theo.
- Thuế suất ưu đãi 15% trong suốt thời gian hoạt động.


Đoạn 3.53 Báo cáo của Ban Thư ký nêu “Doanh nghiệp, hợp tác xã mua sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác thì không phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào”
Câu hỏi:
5. Hãy giải thích việc người mua được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào khi người bán sản phẩm trên không nộp thuế giá trị gia tăng như thế nào?
Trả lời:
Điều 8 Luật Thuế giá trị gia tăng hiện hành có quy định đối tượng chịu thuế 0%, 5%, 10%.
Luật Thuế giá trị gia tăng đã quy định Doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế ở khâu trung gian sẽ không phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Các sản phẩm này khi bán ra cho người tiêu dùng ở khâu kinh doanh thương mại trong nước sẽ thuộc đối tượng chịu thuế suất giá trị gia tăng 5%; sản phẩm ở khâu xuất khẩu thuộc đối tượng chịu thuế suất giá trị gia tăng 0% và được hoàn thuế theo quy định của pháp luật.


6. Có trường hợp nào xuất sai hóa đơn giá trị gia tăng trong việc thực hiện chính sách thuế giá trị gia tăng đối sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa chế biến thành sản phẩm khác (nêu tại câu hỏi 16) không? Làm thế nào để phòng ngừa và kiểm soát rủi ro?
Trả lời:
Theo quy định tại Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016, Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, trường hợp sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã đã lập hóa đơn, kê khai, tính thuế giá trị gia tăng thì người bán và người mua phải điều chỉnh hóa đơn để không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng.
Về việc điều chỉnh hóa đơn xuất sai, tại Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
“Điều 20. Xử lý đối với hóa đơn đã lập
1. Trường hợp lập hóa đơn chưa giao cho người mua, nếu phát hiện hóa đơn lập sai, người bán gạch chéo các liên và lưu giữ số hóa đơn lập sai.
2. Trường hợp hóa đơn đã lập và giao cho người mua nhưng chưa giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc hóa đơn đã lập và giao cho người mua, người người bán và người mua chưa kê khai thuế nếu phát hiện sai phải hủy bỏ, người bán và người mua lập biên bản thu hồi các liên của số hóa đơn đã lập sai. Biên bản thu hồi hóa đơn phải thể hiện được lý do thu hồi hóa đơn. Người bán gạch chéo các liên, lưu giữ số hóa đơn lập sai và lập lại hóa đơn mới theo quy định.
3. Trường hợp hóa đơn đã lập và giao cho người mua, đã giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ, người bán và người mua đã kê khai thuế, sau đó phát hiện sai sót thì người bán và người mua phải lập biên bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản ghi rõ sai sót, đồng thời người bán lập hóa đơn điều chỉnh sai sót. Hóa đơn ghi rõ điều chỉnh (tăng, giám) số lượng hàng hóa, giá bán, thuế suất thuế giá trị gia tăng…, tiền thuế giá trị gia tăng cho hóa đơn số…, ký hiệu… Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, người bán và người mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào. Hóa đơn điều chỉnh không được ghi số âm (-)”.
Khi các văn bản mới được ban hành, Tổng cục Thuế đã có các văn bản hướng dẫn, tuyên truyền nội dung mới tới các cơ quan thuế cấp dưới để nắm bắt, triển khai và hướng dẫn người nộp thuế thực hiện đúng quy định, tránh sai sót trong quá trình thực hiện.
Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách nêu tại Đoạn 3.53 Báo cáo của Ban Thư ký đối với chính sách thuế giá trị gia tăng đối sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa chế biến thành sản phẩm khác , Bộ Tài chính Việt Nam chưa ghi nhận các trường hợp phát sinh vướng mắc.


Đoạn 1.24 nêu “Ngoài việc áp dụng các biện pháp phản ứng nhanh chóng để ngăn chặn sự lây lan của vi rút, để chống lại các tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19, Việt Nam đã đưa ra một loạt các biện pháp tài khóa và khuyến khích để chống lại tác động của đại dịch, bù từ thiếu hụt thu nhập và thúc đẩy tăng trưởng (Hộp 1). Chúng bao gồm gói hỗ trợ tài chính tương đương 3,6% GDP, bao gồm cắt giảm phí, hoãn và khấu trừ thuế và các ưu đãi tài chính cho người sử dụng lao động và người lao động”. 
Câu hỏi:10. Các biện pháp và ưu đãi có được áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không? Doanh nghiệp như vậy đã giảm được bao nhiêu thuế? Đề nghị cung cấp thông tin về tính minh bạch của việc thực thi chính sách.
Trả lời:
- Liên quan đến các chính sách hỗ trợ Covid19, trong năm 2020, Bộ Tài chính đã trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản liên quan đến chính sách thuế, phí, lệ phí như sau:
+ Nghị quyết số 116/2020/QH14 ngày 19/6/2020 về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác.
+ Nghị quyết số 979/2020/UBTVQH14 ngày 27/7/2020 sửa đổi, bổ sung tiểu mục 2 mục I khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 ngày 26/9/2019 của UBTVQH về Biểu thuế bảo vệ môi trường.
+ Nghị quyết số 1148/2020/UBTVQH14 ngày 21/12/2020 của UBTVQH tiếp tục áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay theo khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 979/2020/UBTVQH14.
+ Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 8/4/2020 về gia hạn thời hạn nộp thuế (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh, thuế thu nhập doanh nghiệp) và tiền thuê đất cho hầu hết các đối tượng gặp khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19.
+ Nghị định số 70/2020/NĐ-CP ngày 28/6/2020 về mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đến hết ngày 31/12/2020.
+ Nghị định số 114/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 116/2020/QH14 về giảm thuế TNDN phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác.
- Bộ Tài chính ban hành 21 Thông tư điều chỉnh giảm mức thu 29 khoản phí, lệ phí để hỗ trợ đối tượng chịu ảnh hưởng bới dịch Covid 19.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chính sách thuế ở Việt Nam hiện nay áp dụng thống nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
- Các văn bản pháp luật chính sách thuế nêu trên được đăng tải công khai trên cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, Cổng thông tin điện tử Chính phủ đảm bảo công khai, minh bạch.


12. Kể từ khi hiến pháp mới có hiệu lực vào năm 2013, có trường hợp nào quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư nước ngoài không? Nếu vậy, vui lòng giải thích lý do quốc hữu hóa.
Trả lời:
Kể từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tài chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công không phát sinh trường hợp quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.


Đọan 3.50, đề cập đến: "Điều 9 của Luật xác định việc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, có thể được sử dụng cho người nộp thuế sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ"
Đề nghị biết những loại vấn đề hoặc hoàn cảnh nào sẽ được coi là khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ? Điều khoản này được hiểu rằng ngoại lệ rõ ràng sẽ áp dụng cho hàng hóa sản xuất trong nước, Việt Nam có thể xác nhận với chúng tôi rằng liệu biện pháp này có áp dụng đối với hàng nhập khẩu hay không?
Trả lời:
Điều 4 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt quy định: Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Điều 9 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệtquy định: Người nộp thuế sản xuất hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ được giảm thuế.
Do quy trình sản xuất hàng hoá nhập khẩu được thực hiện ở nước ngoài nên trường hợp có thiên tai, tai nạn ở nước sản xuất hàng hoá được nhập khẩu thì thực hiện theo quy định của nước sản xuất.


Theo báo cáo của Ban Thư ký, "Luật Hải quan sửa đổi (Luật số 54/2014 / QH13) nhằm hoàn thiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đã được thông qua vào ngày 23 tháng 6 năm 2014 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2015… Các nhà chức trách tuyên bố rằng các văn bản pháp luật được xây dựng thông qua tham vấn cộng đồng với các cơ quan liên quan, doanh nghiệp và người dân thông qua các văn bản, bài đăng trên trang web và các hiệp hội doanh nghiệp. "Hoa Kỳ lưu ý rằng nhiều quy định hướng dẫn thực hiện Luật Hải quan sửa đổi của Việt Nam đã không được thông báo cho WTO phù hợp với Hiệp định Tạo thuận lợi Thương mại.Đề nghị cho biết kế hoạch của Việt Nam để hoàn thành việc thông báo các quy định hiện hành. Đề nghị cung cấp tên của cơ quan có trách nhiệm thông báo các văn bản pháp lý đó cho WTO và đầu mối liên hệ được chỉ định để nhận các yêu cầu thông tin hoặc nhận xét.
Trả lời:
Thực hiện nghĩa vụ theo Hiệp định trị giá GATT/WTO, Việt Nam đã thông báo các văn bản pháp luật này cho WTO thông qua Phái đoàn Việt Nam tại WTO, bao gồm:
1. Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014
2. Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Hải quan về thủ tục, kiểm tra, giám sát hải quan
3. Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ sửa đổi Nghị định 08/2015/NĐ-CP
4. Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
5. Thông tư 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Chính phủ sửa đổi Thông tư 38/2015/TT-BTC về thủ tục kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế áp dụng đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
6. Thông tư 60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019 sửa đổi Thông tư 39/2015/TT-BTC về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
Việt Nam đã thông báo các văn bản pháp luật này cho WTO thông qua Phái đoàn Việt Nam tại WTO
Liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ theo Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình rà soát, sửa đổi một số văn bản quy định pháp luật liên quan. Việt Nam sẽ thực hiện nghĩa vụ thông báo sau khi hoàn thành việc rà soát, sửa đổi này.
Cơ quan có trách nhiệm thông báo: Văn phòng Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập về kinh tế/Phái đoàn Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva.


Theo Báo cáo của Ban Thư ký, Việt Nam đã không nộp bất kỳ thông báo nào theo Hiệp định về trị giá hải quan của WTO và các quyết định của Ủy ban về trị giá hải quan của WTO.  Đề nghị Việt Nam xác nhận có thông báo Điều 86 của Luật Hải quan và các câu trả lời của họ về Danh sách các vấn đề cho Ủy ban WTO về Trị giá Hải quan trước cuộc họp tiếp theo không? Nếu không, vui lòng giải thích tại sao không.
Trả lời:
Quy định của Hiệp định Trị giá Hải quan được Việt Nam tuân thủ, nội luật hóa và triển khai thực hiện. Hệ thống  pháp luật về trị giá hải quan của Việt Nam bao gồm:
1. Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014
2. Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Hải quan về thủ tục, kiểm tra, giám sát hải quan
3. Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ sửa đổi Nghị định 08/2015/NĐ-CP
4. Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính về trị giá hải quan đối với hàng hóa XNK
5. Thông tư 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Chính phủ sửa đổi Thông tư 38/2015/TT-BTC về thủ tục kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế áp dụng đối với hàng hóa XNK
6. Thông tư 60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019 sửa đổi Thông tư 39/2015/TT-BTC về trị giá hải quan đối với hàng hóa XNK
Việt Nam đã thông báo các văn bản pháp luật này cho WTO thông qua Phái đoàn Việt Nam tại WTO (công văn số 064/VPBCĐLNKT-HTĐP ngày 16/4/2021 của Ban chỉ đạo liên ngành Hội nhập về kinh tế)


Trong đoạn 3.88 của báo cáo giải thích rằng vào năm 2019, các quy tắc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu đã được sửa đổi thông qua Thông tư số 60/2019 / TT-BTC của Bộ Tài chính (ban hành ngày 30 tháng 8 năm 2019).  Theo cơ quan chức năng, Thông tư quy định tiêu chuẩn và phương pháp trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu  chi tiết hơn so với quy định trước đây, cụ thể là các nguyên tắc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu;  phương pháp xác định giá bán hàng hóa; việc sử dụng giá bán trong cơ sở dữ liệu trị giá hải quan; và việc xác định trị giá hải quan của hàng hóa trong những trường hợp đặc biệt.
Đề nghị giải thích rõ hơn về đoạn này (về so sánh quy định tiêu chuẩn và phương pháp trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu  chi tiết hơn so với quy định trước đây)
Trả lời:
Thông tư Thông tư số 60/2019/TT/BTC ngày 30/8/2019 bổ sung Điều 4 “Nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu” như sau:
Về nguyên tắc: Trị giá hải quan là giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất không bao gồm phí bảo hiểm quốc tế (I), phí vận tải quốc tế (F), được xác định bằng cách áp dụng tuần tự các phương pháp quy định dưới đây và dừng ngay tại phương pháp xác định được trị giá hải quan.Việc xác định trị giá hải quan phải căn cứ vào chứng từ, tài liệu, số liệu khách quan, định lượng được.
Phương pháp xác định giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất, Thông tư nêu rõ: Giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất là giá bán ghi trên hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hóa đơn thương mại và các khoản chi phí liên quan đến hàng hóa xuất khẩu tính đến cửa khẩu xuất phù hợp với các chứng từ có liên quan nếu các khoản chi phí này chưa bao gồm trong giá bán của hàng hóa.
Cách thức xác định: phương pháp xác định trị giá theo giá bán hàng hóa đến cửa khẩu xuất được quy định chi tiết theo giá bán hàng hóa đến cửa khẩu xuất theo từng điều kiện giao hàng xuất khẩu khác nhau gồm giao hàng tại cửa khẩu xuất, giao hàng trong nội địa Việt Nam và giao hàng tại địa điểm giao hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam, cụ thể như sau:
Trường hợp hàng hóa xuất khẩu được giao tại cửa khẩu xuất: là giá bán ghi trên hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hóa đơn thương mại và các khoản chi phí liên quan đến hàng hóa xuất khẩu tính đến cửa khẩu xuất phù hợp với các chứng từ có liên quan nếu các khoản chi phí này chưa bao gồm trong giá bán của hàng hóa.
Trường hợp hàng hóa xuất khẩu không được giao tại cửa khẩu xuất mà địa điểm giao hàng ở ngoài lãnh thổ Việt Nam thì giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất được xác định trên cơ sở giá bán ghi trên hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hóa đơn thương mại, trừ phí bảo hiểm quốc tế (I, nếu có), phí vận tải quốc tế (F) từ cửa khẩu xuất đến địa điểm giao hàng;
Trường hợp hàng hóa xuất khẩu không được giao tại cửa khẩu xuất mà địa điểm giao hàng ở trong nội địa Việt Nam thì giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất được xác định trên cơ sở giá bán ghi trên hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hóa đơn thương mại, cộng thêm các chi phí nếu phát sinh như: Phí vận tải nội địa và các chi phí có liên quan đến vận chuyển hàng hóa xuất khẩu từ địa điểm giao hàng đến cửa khẩu xuất; Phí bảo hiểm của hàng hóa xuất khẩu từ địa điểm giao hàng đến cửa khẩu xuất; Chi phí khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu phát sinh từ địa điểm giao hàng đến cửa khẩu xuất.
Ngoài ra, Thông tư cũng Bổ sung nội dung mở rộng khái niệm hàng hóa giống hệt, tương tự tại phương pháp giá bán của hàng hóa xuất khẩu do cơ quan hải quan thu thập, tổng hợp, phân loại như quy định đối với hàng nhập khẩu để đảm bảo tính thống nhất.


Việt Nam có thể cho biết số lượng và tính chất của các vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và hàng giả liên quan cụ thể đến hàng may mặc, thực phẩm, giày dép (kể cả ủng) và mỹ phẩm đã được Ban Chỉ đạo Quốc gia chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại xác định?
Trả lời:
Về tổng số vụ  buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả xử lý trong năm 2020, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia đã phát hiện, xử lý 185.461 vụ (giảm 16,3 % so với cùng kỳ năm 2019), thu nộp ngân sách Nhà nước 24,8 nghìn tỷ đồng (tăng gần 15,4% so với cùng kỳ)
Một số vụ việc điển hình liên quan đến sở hữu trí tuệ năm 2020:
- Ngày 7/7/2020, lực lượng chức năng bắt giữ kho hàng lậu 10.000m2 tại tỉnh Lào Cai, chứa 160.000 sản phẩm không hóa đơn, chứng từ, hàng chục nghìn sản phẩm tiêu dùng gồm  giày dép, kính mắt, đồng hồ, hàng tiêu dùng, mỹ phẩm nghi giả các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới cùng thiết bị để livestream bán hàng


Ban Chỉ đạo Quốc gia và các thành viên của Ban Chỉ đạo có thực hiện hoặc lên kế hoạch có mục tiêu nào để giải quyết hàng giả trong ngành may mặc, thực phẩm, giày dép [bao gồm cả ủng] và mỹ phẩm không?
Trả lời:
Có. Ban chỉ đạo quốc gia về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban chỉ đạo 389 quốc gia) ban hành kế hoạch và các thành viên Ban chỉ đạo (các bộ ngành, địa phương) có trách nhiệm triển khai thực hiện. Một số kế hoạch gần đây liên quan đến giải quyết hàng giả trong ngành may mặc, thực phẩm, giày dép, mỹ phầm bao gồm:
- Kế hoạch 11/KH-BCĐ389 về tăng cường công tác phòng, chống buôn lậu, sản xuất, kinh doanh thuộc nhóm hàng dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền
- Kế hoạch 399/KH-BCĐ389 về tăng cường chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong hoạt động thương mại điện tử (thời gian thực hiện từ 1/11/2020 đến 31/10/2023)


Báo cáo của Ban Thư ký nêu rõ “Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp khác nhau để ứng phó với đại dịch COVID-19 trong lĩnh vực thủ tục hải quan và trị giá ...”
Đề nghị Việt Nam giải thích những biện pháp nào đã được áp dụng trong lĩnh vực định giá hải quan? Bản cập nhật mới nhất về Tình hình thông báo pháp luật quốc gia về trị giá hải quan và phản hồi đối với Danh mục các vấn đề (G / VAL / W / 232 / Rev.12) không liệt kê bất kỳ thông báo nào của Việt Nam. Đề nghị cho biết Việt Nam có thông báo luật của mình cho WTO và phản hồi Danh sách các vấn đề hay không?
Trả lời:
Quy định của Hiệp định Trị giá Hải quan được Việt Nam tuân thủ, nội luật hóa và triển khai thực hiện. Hệ thống  pháp luật về trị giá hải quan của Việt Nam bao gồm:
1. Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014
2. Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Hải quan về thủ tục, kiểm tra, giám sát hải quan
3. Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ sửa đổi Nghị định 08/2015/NĐ-CP
4. Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
5. Thông tư 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Chính phủ sửa đổi Thông tư 38/2015/TT-BTC về thủ tục kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế áp dụng đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
6. Thông tư 60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019 sửa đổi Thông tư 39/2015/TT-BTC về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
Việt Nam đã thông báo các văn bản pháp luật này cho WTO thông qua Phái đoàn Việt Nam tại WTO (công văn số 064/VPBCĐLNKT-HTĐP ngày 16/4/2021 của Ban chỉ đạo liên ngành Hội nhập về kinh tế)


Đoạn 3.17 báo cáo rằng "Việt Nam đã ban hành quyết định trước về phân loại, trị giá và xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, thay đổi và bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2015 / TT-BTC của Bộ Tài chính, ban hành ngày 25 tháng 3 năm 2015, quy định trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu ”.
Đề nghị cho biết việc ban hành quyết định trước về xuất xứ có ưu đãi và không ưu đãi không? Theo kinh nghiệm của bạn, về xuất xứ, những vấn đề cụ thể nào được yêu cầu đưa ra tại thông báo xác định trước?
Trả lời:
Thông tư số 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính quy định cụ thể về hồ sơ xác định trước xuất xứ hàng hóa. Theo đó cơ quan hải quan ban hành văn bản xác định xuất xứ cho cả hàng hóa ưu đãi và không ưu đãi. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Hải quan Việt Nam chưa nhận được hồ sơ đề nghị xác định trước xuất xứ hàng hóa.


Trong Báo cáo của Ban Thư ký đã nêu rõ “Luật Hải quan quy định về quản lý hải quan, liên quan đến hải quan; hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; và tổ chức và hoạt động của dịch vụ hải quan. ”
Câu hỏi: đề nghị Việt Nam cung cấp thêm thông tin về quy định đối với hàng hóa quá cảnh?
Trả lời:
Quy định về hàng hóa quá cảnh bao gồm:
1. Về thủ tục hải quan:
Điều 64 Luật Hải quan năm 2014; Điều 43 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Nghị định số 59/2018-NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ; Điều 51 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính (sửa đổi, bổ sung tại khoản 29 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018)
2. Về chính sách quản lý:
Điều 44, 45, 46, 47 Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 ngày 12/6/2017; Điều 35 Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018
3. Về tuyến đường vận chuyển hàng hóa quá cảnh:
Thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 16/2017/TT-BGTVT ngày 22/5/2017 của Bộ Giao thông vận tải về tuyến đường vận chuyển quá cảnh hàng hóa qua lãnh thổ Việt Nam
#2
Đoạn 2.65 nêu Việt Nam tuân thủ và thực hiện đầy đủ các cam kết trong Hiệp định định giá GATT của WTO, theo đó, nguyên tắc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu là trị giá giao dịch. Để đảm bảo việc thực thi đầy đủ các quy định của WTO trong lĩnh vực này, Việt Nam đã ban hành và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, bao gồm: Thông tư số 39/2015 / TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính về trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu. hàng hóa xuất khẩu và Thông tư số 60/2019 / TT-BTC ngày 30 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2015 / TT-BTC ngày 25 tháng 3 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Tài chính về trị giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu, hàng hoá xuất khẩu. Theo đó, Việt Nam đã chuyển đổi đầy đủ các nội dung kỹ thuật về trị giá hải quan của Hiệp định trị giá của WTO vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc gia, góp phần quan trọng trong việc đẩy nhanh tiến độ thông quan; nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm soát chống gian lận về giá, đảm bảo thu đúng, thu đủ.
Câu hỏi:
6. Nếu cơ quan hải quan xác định giá của hàng hóa giống hệt nhau theo phương pháp xác định trị giá hải quan thứ hai (theo hiệp định WTO) sau khi từ chối mức giá giữa các bên có mối quan hệ đặc biệt thì phạm vi 'hàng hóa giống hệt' là không rõ ràng. Đề nghị Việt Nam làm rõ có thể xác định cụ thể phạm vi của hàng hóa giống hệt nhau một cách chi tiết và công bố nó như một quyết định không?.
Trả lời:
Căn cứ quy định tại khoản 8,9 Điều 1 Thông tư số 21/VBHN-BTC ngày 23/4/2020 của Bộ Tài chính quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (văn bản hợp nhất Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 và Thông tư số 60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019) thì hàng hóa nhập khẩu giống hệt là những hàng hóa nhập khẩu giống nhau về mọi phương diện: đặc điểm vật chất gồm bề mặt sản phẩm, vật liệu cấu thành, phương pháp chế tạo, chức năng, mục đích sử dụng, tính chất cơ, lý, hóa, có cùng mã số hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam; chất lượng sản phẩm; nhãn hiệu sản phẩm, được sản xuất ở cùng một nước, bởi cùng một nhà sản xuất hoặc nhà sản xuất được ủy quyền, nhượng quyền.
Hàng hóa có những khác biệt không đáng kể về bề ngoài như màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng mà không làm ảnh hưởng đến trị giá của hàng hóa thì vẫn được coi là hàng hóa nhập khẩu giống hệt.
Hàng hóa nhập khẩu không được coi là giống hệt nếu như trong quá trình sản xuất ra hàng hóa đó có sử dụng các thiết kế kĩ thuật, thiết kế thi công, kế hoạch triển khai, thiết kế mỹ thuật, bản vẽ thiết kế, các sơ đồ, phác đồ hay các sản phẩm dịch vụ tương tự được làm ra ở Việt Nam do người mua cung cấp miễn phí cho người bán.
Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt căn cứ theo quy định tại Điều 8 Thông tư số 21/VBHN-BTC ngày 23/4/2020 của Bộ Tài chính quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Nghị định thư thứ ba sửa đổi Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Hàn Quốc (AKTIGA) được ký kết năm 2015. Đến nay, chỉ có Việt Nam chưa phê chuẩn Nghị định thư do vướng mắc kỹ thuật liên quan đến cam kết thuế quan đối với các sản phẩm xăng dầu. Việt Nam đã đề nghị Hàn Quốc thảo luận để giải quyết vấn đề này, tuy nhiên, Hàn Quốc vẫn chưa sẵn sàng cho cuộc thảo luận.
Câu hỏi:
7. Hàn Quốc và Việt Nam đã liên tục thảo luận về các cam kết thuế quan đối với các sản phẩm xăng dầu tại các kỳ họp song phương ngày 13 (tháng 2/2016, Seoul), ngày 14 (tháng 7, Singapore), ngày 15 (tháng 3 năm 2017) và ngày 17 (tháng 2 năm 2019). các cuộc đàm phán đã được tổ chức bên lề của Ủy ban Thực hiện FTA Hàn Quốc-ASEAN và các cuộc tham vấn SEOM-ROK lần thứ 32 và các cuộc tham vấn khác. Trong cuộc hội đàm song phương lần thứ 17, Hàn Quốc đề nghị Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư thứ ba càng sớm càng tốt. Theo đó, Việt Nam giải thích rằng việc chậm phê chuẩn là do nhập siêu tăng theo cấp số nhân kể từ khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc có hiệu lực và Việt Nam cần một thời gian để giải quyết các ý kiến khác nhau giữa các bên liên quan trong nước.
Đặc biệt, Hàn Quốc đã đề cập rằng chúng tôi sẽ thảo luận vấn đề này với Việt Nam trong cuộc tham vấn SEOM-ROK lần thứ 32 và chúng tôi sẽ hỗ trợ cần thiết cho Việt Nam để giải quyết vấn đề này. Điều này được nêu trên trang 2 của Bản ghi tóm tắt
Đề nghị Việt Nam cho biết lý do tại sao Việt Nam đánh giá rằng Hàn Quốc không trong giai đoạn thảo luận vấn đề này, điều này đi ngược lại với các cuộc thảo luận đã chia sẻ giữa hai bên và đưa ra cơ sở để đánh giá như vậy.
Trả lời: nội dung này tại Báo cáo quốc gia do Bộ Công Thương soạn thảo; đề nghị Bộ Công Thương trả lời nội dung này.
(Phòng Khu vực cho thêm ý kiến)
Trả lời:
Bộ Tài chính cung cấp quá trình và hiện trạng gần đây về nội dung làm việc song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc liên quan đến Phê duyệt Nghị định thư thứ 3 sửa đổi Hiệp định AKFTA, cụ thể:
- Tại phiên 17 Ủy ban thực thi Hiệp định AKFTA (2/2019), Việt Nam và Hàn Quốc không tiến hành trao đổi kỹ thuật. Tại phiên toàn thể, Việt Nam thông báo với cuộc họp Việt Nam đang trong quá trình thực hiện việc phê duyệt Nghị định thư thứ 3 sửa đổi Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Hàn Quốc và Việt Nam vẫn đang nỗ lực để hoàn tất quá trình này và sẽ thông báo cho các bên khi hoàn tất phê duyệt (Nội dung tại biên bản phiên họp đoạn 7 mục 5.1)
- Tại phiên SEOM ROK lần thứ 32 (4/2020), Việt Nam thông báo vẫn còn một vài vấn đề nội bộ cần giải quyết với phía Hàn Quốc để phê duyệt Nghị định thư. Hàn Quốc xác nhận sẽ tư vấn và cung cấp hỗ trợ cần thiết để Việt Nam xử lý vấn đề kỹ thuật.
“On the ratification of the Third Protocol to Amend the AKTIGA, Viet Nam raised that there are some remaining internal concerns that she needs to resolve with Korea in order to ratify the Protocol. Korea informed the Meeting that she will consult with and provide necessary assistance to Viet Nam to resolve the outstanding technical issues at the request of Viet Nam.”
- Tại phiên SEOM 1/52 của ASEAN (1/2021), cuộc họp ghi nhận Việt Nam và Hàn Quốc đang trao đổi song phương để giải quyết các vấn đề liên quan đến Nghị định thứ 3, Hội nghị đề nghị Việt Nam sớm giải quyết xong các vấn đề này.
“The Meeting noted that Viet Nam is still discussing with Korea on a bilateral basis to address their issue on the 3rd Protocol to amend the AKTIGA. The Meeting urged Viet Nam to resolve their issue on the 3rd Protocol at the earliest opportunity.”


22. Các quy định trong Luật Chứng khoán sửa đổi của Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2019 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 có tác động đến các cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam trong diễn đàn FTA / CPA ở mức độ nào đặc biệt liên quan đến việc tiếp cận thị trường của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đối với phân ngành dịch vụ tài chính do các công ty chứng khoán và công ty quản lý đầu tư tại Việt Nam thực hiện, trong số các lĩnh vực khác liên quan đến hình thức pháp nhân, quan hệ đối tác vốn nước ngoài, yêu cầu vốn, yêu cầu và thủ tục cấp phép và phạm vi hoạt động kinh doanh mà công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài và công ty quản lý đầu tư có vốn nước ngoài tại Việt Nam đảm nhận.
Trả lời:
Luật Chứng khoán 2019 không thay đổi quy định về hình thức pháp nhân, quan hệ đối tác vốn nước ngoài, yêu cầu vốn, yêu cầu và thủ tục cấp phép và phạm vi hoạt động kinh doanh của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đối với phân ngành dịch vụ tài chính do công ty quản lý quỹ tại Việt Nam thực hiện.
Đối với công ty chứng khoán, Điều 86 Luật Chứng khoán 2019 quy định cụ thể hơn phạm vi hoạt động kinh doanh của Công ty chứng khoán như sau (áp dụng đối với cả Công ty chứng khoán trong nước và Công ty chứng khoán nước ngoài hoạt động tại Việt Nam):
- Công ty chứng khoán được cấp phép hoạt động môi giới chứng khoán: Được nhận ủy thác quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân; Thực hiện phân phối hoặc làm đại lý phân phối chứng khoán; quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán; Cung ứng dịch vụ quản lý danh sách người sở hữu chứng khoán cho các doanh nghiệp khác; Cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến; Cung cấp hoặc phối hợp với các tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán hoặc cung cấp dịch vụ cho vay chứng khoán; Cung cấp hoặc phối hợp với các tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ ứng trước tiền bán chứng khoán; Lưu ký chứng khoán, bù trừ và thanh toán chứng khoán; Các dịch vụ trên thị trường chứng khoán phái sinh.
- Công ty chứng khoán được cấp phép thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán, được giao dịch chứng khoán trên tài khoản tự doanh chứng khoán, và được đầu tư góp vốn, phát hành, chào bán các sản phẩm tài chính.
- Công ty chứng khoán được cấp phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, được cung cấp dịch vụ tư vấn hồ sơ chào bán chứng khoán, thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán; Làm đại lý lưu ký, thanh toán, chuyển nhượng chứng khoán; Tư vấn tái cơ cấu, hợp nhất, sáp nhập, tổ chức lại, mua bán doanh nghiệp; Tư vấn quản trị, tư vấn chiến lược doanh nghiệp; Tư vấn chào bán, niêm yết, đăng ký giao dịch chứng khoán; Tư vấn cổ phần hóa doanh nghiệp.


23. Kể từ năm 2013, nhiều quy định đã được ban hành liên quan đến các cam kết dịch vụ tài chính của Việt Nam, trong cả lĩnh vực chứng khoán và dịch vụ ngân hàng trong WTO, Việt Nam có thể giải thích thêm về các quy định và thông lệ hiện hành của Việt Nam (bao gồm cả ví dụ về các công ty hiện có), các dịch vụ sau:
a) Cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán.
b) Tư vấn tài chính, dịch vụ trung gian và các dịch vụ bổ trợ khác.
Trả lời:
- Đối với dịch vụ cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán: Khi quản lý tài sản cho khách hàng ủy thác, nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán có trách nhiệm bảo mật thông tin của khách hàng, thông tin về giao dịch tài sản, danh mục đầu tư của khách hàng và các thông tin khác có liên quan, ngoại trừ cung cấp thông tin theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 20 Thông tư số 99/2020/TT-BTC.
- Đối với dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ trung gian và các dịch vụ bổ trợ khác có liên quan đến chứng khoán: Công ty chứng khoán được cung cấp các dịch vụ theo quy định tại Điều 86 Luật Chứng khoán 2019 như đã liệt kê tại câu hỏi 1 nêu trên. Đối với công ty quản lý quỹ: công ty quản lý quỹ thành lập tại Việt Nam được cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán theo quy định tại khoản 1 Điều 73 Luật Chứng khoán. Việc cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán phải đảm bảo quy định tại khoản 32 Điều 4 Luật Chứng khoán, Điều 22 và Điều 23 Thông tư số 99/2020/TT-BTC hướng dẫn về hoạt động của công ty quản lý quỹ.


19. Việt Nam có kế hoạch hoặc lộ trình thực hiện cấp phép xuất nhập khẩu tự động và sử dụng các phương tiện kỹ thuật số để tăng tốc độ luân chuyển hàng hóa không?
Trả lời:
- Trong lĩnh vực hải quan, nhìn chung, công nghệ thông tin đã được ứng dụng toàn diện trong tất cả các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan, góp phần cải cách hiện đại hóa hải quan, tạo thuận lợi thương mại và hướng tới xây dựng chính phủ điện tử. Hải quan Việt Nam cơ bản đã xây dựng được một Hệ thống công nghệ thông tin lớn hoạt động ổn định, thống suốt, bao phủ và hỗ trợ hầu hết các lĩnh vực trọng yếu về quản lý hải quan như: thực hiện thủ tục hải quan, nộp thuế, quản lý hàng hóa tại cảng biển, quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan, xử lý vi phạm, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế Một cưa ASEAN, quản lý nội bộ ngành.
- Đối với nội dung cấp phép nhập khẩu tự động và logistics, đề nghị lấy ý kiến cơ quan quản lý chuyên ngành về nội dung này.


Đoạn 2.22 nêu Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh và thực chất hơn. Cổ phần hóa, thoái vốn đã được đẩy mạnh so với giai đoạn trước. Số lượng doanh nghiệp nhà nước được thu gọn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt. Mô hình quảnl ý, giám sát doanh nghiệp nhà nước và vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp được hoàn thiện, từng bước tách bạch chức năng quản lý nhàn ước và đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước. Tổng giá trị vốn chủ sở hữu nhà nước được bảo toàn và phát triển, tỷ lệ doanh nghiệp nhà nước có lãi tăng, một số doanh nghiệp nhà nước yếu kém đã trở lại hoạt động.
Câu hỏi:
71. Những doanh nghiệp nhà nước nào đã được thay thế/thu gọn và chúng được thay thế như thế nào?
Trả lời:
Trong giai đoạn 2016-2020, đã có 180 Doanh nghiệp nhà nước thực hiện tái cơ cấu theo hình thức cổ phần hóa. Trong đó các hình thức cổ phần hóa bao gồm:
- Giữ nguyên vốn nhà nước, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ;
- Bán một phần vốn nhà nước hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ;
- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.


72. Những doanh nghiệp nhà nước nêu tại câu hỏi số 71 đã thoái vốn hoặc thay thế bằng các doanh nghiệp nhà nước mới chưa?
Trả lời:
Các Doanh nghiệp nhà nước nêu trên đã được cổ phần hóa và sau khi thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp này đã đăng ký kinh doanh và hoạt động theo hình thức công ty cổ phần. Trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam không thành lập mới Doanh nghiệp nhà nước, do đó cũng không có Doanh nghiệp nhà nước mới để thay thế cho các Doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa.


73. Chính phủ đã có những hành động gì để đưa doanh nghiệp nhà nước yếu kém trở lại hoạt động?
Trả lời:
Đối với một số dự án, doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả ngành công thương, các Bộ, cơ quan đã chỉ đạo doanh nghiệp thực hiện các biện pháp về quản trị doanh nghiệp, sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, lao động để tiết giảm chi phí đầu vào, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và đầu tư; xác định trách nhiệm, xử lý đối với các tổ chức, cá nhân có sai phạm.


74. Chính phủ có cung cấp các khoản vay, trợ cấp hoặc các hình thức hỗ trợ khác dưới mức thị trường cho các doanh nghiệp nhà nước này không? Nếu có, hãy xác định và mô tả chúng.
• Câu hỏi tiếp theo của Hoa Kỳ: Việt Nam trả lời rằng “các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động và quản lý của các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam đã được phản ánh để đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp nhà nước minh bạch”.
i. Vui lòng cung cấp bản sao các quy định pháp luật này?
ii. Các quy định này có được công bố rộng rãi không?
iii. Các quy định này có yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước phải đạt được tỷ suất lợi nhuận mục tiêu hoặc phải trả cổ tức cho Nhà nước không?
iv. Việt Nam đang tập trung vào những ngành và lĩnh vực chính nào cho các doanh nghiệp nhà nước trong tương lai?
v. Việt Nam có cung cấp vốn chủ sở hữu mới nào (như một hình thức hỗ trợ cụ thể) cho các doanh nghiệp nhà nước của mình trong kỳ báo cáo không? Nếu vậy vốn chủ sở hữu đó có được cung cấp theo điều kiện thị trường không?
Trả lời:
Chính phủ Việt Nam không cung cấp các khoản vay, trợ cấp hoặc các hình thức hỗ trợ khác cho các doanh nghiệp trên.
i. Hệ thống các cơ chế chính sách pháp luật phục vụ quá trình cơ cấu lại Doanh nghiệp nhà nước, điều chỉnh hoạt động và quản lý các Doanh nghiệp nhà nước đã được ban hành đầy đủ, đảm bảo chặt chẽ, công khai minh bạch tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp nhà nước, gồm:
- Nhóm chính sách về cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước: Nghị định số 126/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 của Chính phủ, được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 140/2020/NĐ-CP ngày 30/11/2020; Thông tư số 40/2018/TT-BTC và Thông tư số 41/2018/TT-BTC ngày 04/5/2018 của Bộ Tài chính.
- Nhóm chính sách tài chính về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp: Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội); Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ, được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 32/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 và Nghị định số 140/2020/NĐ-CP ngày 30/11/2020; Thông tư số 219/2015/TT-BTC ngày 31/12/2015, được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 59/2018/TT-BTC ngày 16/7/2018 của Bộ Tài chính.
- Nhóm chính sách về giám sát tài chính và công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước: Nghị định số 87/2015/NĐ-CP ngày 06/10/2015 của Chính phủ, Thông tư số 200/2015/TT-BTC ngày 15/12/2015 của Bộ Tài chính; Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ.
ii. Các quy định trên đều được công bố công khai, rộng rãi.
iii. Căn cứ các quy định trên, các Doanh nghiệp nhà nước phải xây dựng chiến lược đầu tư phát triển doanh nghiệp, kế hoạch sản xuất kinh doanh 5 năm và hàng năm và được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt, trong đó có doanh thu và lợi nhuận kế hoạch. Việc phân phối lợi nhuận của Doanh nghiệp nhà nước thực hiện theo Luật số 69/2014/QH13 và các văn bản hướng dẫn nêu trên.
iv. Theo quy định tại Điều 10 Luật số 69/2014/QH13, phạm vi đầu tư vốn nhà nước tập trung vào các lĩnh vực sau:
- Doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội;
- Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh;
- Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên;
- Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế.
v. Theo quy định tại Luật số 69/2014/QH13, đối với Doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động hiệu quả nhưng vốn điều lệ không bảo đảm thực hiện ngành, nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt hoặc doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ q uốc phòng, an ninh nhưng vốn điều lệ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao và thuộc một trong các lĩnh vực nêu tại Điều 10 Luật số 69/2014/QH13 thì được xem xét đầu tư bổ sung vốn điều lệ.


Làm rõ thêm về việc hải quan Việt Nam không chấp thuận cơ chế tự chứng nhận xuất xứ trong ASEAN (ASEAN Wide Self Certification (AWSC)
Trả lời:
Hải quan Việt Nam chấp nhận cơ chế tự chứng nhận xuất xứ trong ASEAN theo quy định tại Thông tư số 19/2020/TT-BTC ngày 14/8/2021. Đối với một số trường hợp theo phản ánh của Hải quan Thái Lan, Hải quan Việt Nam đã cho rà soát tại một số Hải quan địa phương (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Tp.Hồ Chí Minh), tuy nhiên tại các đơn vị này không phát sinh trường hợp từ chối. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền của Thái Lan cung cấp cụ thể các trường hợp và sẽ phối hợp xử lý.


Xem thêm
2021-06-15, 09:06 AM » Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu và cân bằng cán cân thương mại
2021-06-07, 13:06 PM » Rà soát, đánh giá nghĩa vụ thực hiện lộ trình cam kết tại các FTA của Việt Nam
2021-04-15, 04:04 AM » Tình hình thực hiện Hiệp định tạo thuận lợi thương mại WTO của Việt Nam
2021-03-16, 01:03 AM » Cảnh báo các hành vi lừa đảo, gian lận thương mại của một số Doanh nghiệp tại UAE
2021-02-20, 20:02 PM » Chính sách tài chính về khoáng sản
2021-02-10, 22:02 PM » Tình hình thực hiện Hiệp định Việt Nam-Campuchia vận tải thủy
2021-02-10, 20:02 PM » Chiến lược Phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam
2021-02-09, 18:02 PM » Danh sách các Cục Hải quan tỉnh biên giới trên đất liền
2021-02-09, 12:02 PM » Website của Thương vụ Việt Nam tại Thuỵ Điển
2021-02-09, 00:02 AM » Hải quan Mỹ: 100% thông tin manifest được rà soát điện tử trước khi hàng đến



Users browsing this thread: 1 Guest(s)