Đăng nhập

XUẤT NHẬP KHẨU

Rà soát, đánh giá nghĩa vụ thực hiện lộ trình cam kết tại các FTA của Việt Nam

59 lượt xem
#1
Tính đến tháng 5/2021, Việt Nam đã và đang thực thi cam kết trong khuôn khổ 14 hiệp định thương mại tự do (FTA), bao gồm: ASEAN (ATIGA); ASEAN - Trung Quốc (ACFTA); ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA); ASEAN - Nhật Bản (AJCEP); ASEAN - Ốt-xtrây-lia - Niu Di-lân (AANZFTA); ASEAN - Ấn Độ (AIFTA); ASEAN - Hồng Kông, Trung Quốc (AHKFTA); Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA); Việt Nam - Chi-lê (VCFTA); Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA); Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á-Âu (VN-EAEU FTA); Việt Nam - EU (EVFTA); Việt Nam - Anh (UKVFTA); và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Bộ Tài chính chủ trì đàm phán và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) hướng dẫn thực thi cam kết đối với các nội dung: mở cửa thị trường hàng hóa, mở cửa thị trường dịch vụ tài chính (dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng khoán), hải quan và tạo thuận lợi thương mại.
1. Trách nhiệm, nghĩa vụ của Bộ Tài chính đối với việc thực hiện lộ trình cam kết trong các FTA đang thực thi
1.1. Kết quả ban hành/sửa đổi, bổ sung VBQPPL trong nước
a) VBQPPL đã ban hành để thực thi cam kết cắt giảm thuế FTA
Quy định về ban hành biểu thuế
Theo quy định tại các FTA, Việt Nam cam kết xóa bỏ/cắt giảm theo lộ trình đối với thuế nhập khẩu (trong 14 FTA) và thuế xuất khẩu (chỉ trong khuôn khổ CPTPP, EVFTA và UKVFTA) theo các danh mục cắt giảm hoặc theo mức thuế suất cụ thể cho cả lộ trình quy định tại hiệp định. Để triển khai cam kết cắt giảm thuế quan FTA, Việt Nam cần ban hành các VBQPPL trong nước về biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu với mức thuế suất được quy định cụ thể theo từng năm, bắt đầu từ năm hiệp định có hiệu lực.
Trước yêu cầu của tình hình kinh tế - xã hội, chủ trương, đường lối của Đảng và Hiến pháp năm 2013, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (Luật số 107/2016/QH13), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/09/2016. Theo quy định tại Điều 11 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu  nêu trên, thẩm quyền ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt là cấp Chính phủ và được ban hành dưới hình thức Nghị định. Danh mục các VBQPPL được ban hành để thực hiện lộ trình cắt giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu FTA của Việt Nam áp dụng theo từng giai đoạn kể từ 01/9/2016 đến nay được chi tiết tại Tiểu phụ lục 1.
Quy định về kiểm tra, xác định xuất xứ
Bộ Công Thương là cơ quan chủ trì đàm phán các FTA, ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện quy tắc xuất xứ trong các Hiệp định này. Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) là đơn vị phối hợp thực hiện các nội dung liên quan đến lĩnh vực quản lý của cơ quan hải quan như kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để đảm bảo hàng hóa được hưởng thuế suất thuế ưu đãi đặc biệt theo đúng cam kết.
Để đảm bảo công tác kiểm tra, xác định xuất xứ của cơ quan hải quan được thực hiện thống nhất, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 62/2019/TT-BTC ngày 05/9/2019 quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Đây là quy định chung được áp dụng cho công tác kiểm tra xuất xứ hàng hóa đối với các cam kết của Việt Nam tại các FTA. Mới đây nhất, ngày 25/01/2021, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký ban hành Thông tư số 07/2021/TT-BTC quy định thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu trong Hiệp định EVFTA.
b) VBQPPL đã ban hành để thực thi cam kết về dịch vụ bảo hiểm
Để đảm bảo thực hiện các cam kết WTO có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, Quốc hội đã ban hành Luật số 61/2010/QH12  sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 123/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, trong đó cho phép thành lập chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới.
Để thực hiện cam kết dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định CPTPP, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ số 42/2019/QH14 được Quốc Hội thông qua ngày 14/6/2019 (có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2019). Tại Luật này, liên quan đến lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm bổ sung dịch vụ phụ trợ bảo hiểm là bộ phận cấu thành của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, do doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tổ chức, cá nhân khác thực hiện nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm tư vấn bảo hiểm, đánh giá rủi ro bảo hiểm, tính toán bảo hiểm, giám định tổn thất bảo hiểm, hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm.
Triển khai thi hành Luật này, liên quan đến lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2019/NĐ-CP ngày 01/11/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 73/2016/NĐ-CP và Nghị định số 98/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 48/2018/NĐ-CP và Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 65/2019/TT-BTC ngày 16/9/2019 quy định về nội dung đào tạo, thi, cấp và công nhận chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm.
c) VBQPPL đã ban hành để thực thi cam kết về dịch vụ chứng khoán
Khung pháp lý cho thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm Luật Chứng khoán 2006, Luật Chứng khoán sửa đổi năm 2010, Luật Chứng khoán 2019 và hệ thống các văn bản hướng dẫn. Luật Chứng khoán là cơ sở chủ yếu để điều tiết thị trường chứng khoán Việt Nam. Khung pháp lý bao gồm hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành đã thể hiện việc thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế của Việt Nam tại các FTA. (Danh mục chi tiết các VBQPPL có liên quan đến thực hiện cam kết về dịch vụ chứng khoán trong các FTA được ban hành từ năm 2015 đến nay tại Tiểu phụ lục 2 đính kèm).
d) VBQPPL đã ban hành để thực thi cam kết về hải quan và tạo thuận lợi thương mại
Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng, thực tế phát triển kinh tế đối ngoại trước mắt cũng như lâu dài và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, vấn đề về cải cách thủ tục hải quan, hiện đại hoá quản lý hải quan đã được triển khai sâu rộng tại Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành để nội luật hóa các cam kết quốc tế, điều ước quốc tế về hải quan mà Việt Nam là thành viên (ngoài các FTA còn có các khuôn khổ như Công ước Kyoto, Hiệp định Tạo thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa và người qua lại biên giới các nước Tiểu vùng Mê-công mở rộng (GMS), Hiệp định hợp tác hải quan ASEAN, Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại...). Theo đó, Luật Hải quan năm 2014 đã thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan, từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử. Các quy định về địa điểm làm thủ tục hải quan (Điều 22), hồ sơ hải quan (Điều 24), thời hạn nộp hồ sơ hải quan (Điều 25), đăng ký tờ khai hải quan (Điều 30) cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thủ tục hải quan điện tử (Danh mục VBQPPL ban hành để thực hiện cam kết về hải quan và tạo thuận lợi thương mại trong các FTA đang thực hiện của Việt Nam được chi tiết tại Tiểu phụ lục 3).
1.2. Các văn bản pháp luật cần tiếp tục ban hành/sửa đổi, bổ sung
- Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, trong đó, có bổ sung quy định về cho phép thành lập chi nhánh tái bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu việc thực hiện các cam kết tại Hiệp định EVFTA. Dự kiến, trình Quốc hội cho ý kiến về dự Luật này tại kỳ họp thứ 2 năm 2021, trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 1 năm 2022 và sẽ có hiệu lực vào năm 2023.
- Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP, trong đó có quy định về “trường hợp thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam thì việc khai hải quan được thực hiện bởi đại lý làm thủ tục hải quan hoặc người đại diện cho thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có tên trên Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu” để thực hiện cam kết tại Điều 4.11 Chương 4 Hiệp định EVFTA. Dự kiến thời hạn hoàn thành là năm 2021.
1.3. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân
(1) Đối với một số FTA mới có hiệu lực của Việt Nam (như CPTPP, AHKFTA, EVFTA, UKVFTA), việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện cam kết về thuế quan, quy tắc xuất xứ, hạn ngạch thuế quan còn bị ảnh hưởng bởi tiến độ phê chuẩn/phê duyệt và thời điểm có hiệu lực của Hiệp định. Vì vậy đã dẫn đến thực trạng là hiệu lực của các văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện cam kết đối với các nội dung nêu trên chưa có hiệu lực đồng thời với hiệu lực của Hiệp định. Điều này có thể chưa tạo thuận lợi một cách kịp thời cho các doanh nghiệp nhập khẩu để tận dụng ưu đãi của các FTA ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Mặc dù vậy, các VBQPPL ban hành biểu thuế FTA và hướng dẫn thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ đều đã có quy định về việc thuế suất FTA được áp dụng kể từ ngày FTA đó có hiệu lực.
(2) Quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài: Nhằm triển khai việc mở cửa thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN), Luật Chứng khoán quy định nguyên tắc NĐTNN, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khi tham gia đầu tư, hoạt động trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam tuân thủ quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về chứng khoán và TTCK, và giao Chính phủ quy định chi tiết (Điều 51). Theo đó, nội dung quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài (SHNN) tối đa tại công ty đại chúng được quy định theo hướng căn cứ theo ngành nghề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp và tuân thủ cam kết quốc tế, pháp luật chuyên ngành (khoản 1 Điều 139 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP).
Để phù hợp với Luật Đầu tư 2020, điểm c khoản 1 Điều 139 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP quy định như sau: “Công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh thuộc danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với NĐTNN thì thực hiện theo quy định về SHNN tại danh mục. Trường hợp ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện tại danh mục không quy định cụ thể điều kiện tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của NĐTNN trong tổ chức kinh tế thì tỷ lệ SHNN tối đa tại công ty là 50% vốn điều lệ”.
Hiện nay Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư đã ban hành Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với NĐTNN. Tuy nhiên, các điều kiện hạn chế cụ thể đối với các ngành, nghề tại Danh mục mới đang được rà soát, chưa được công bố, gây khó khăn trong quá trình áp dụng.
Ngày 19/4/2021, Bộ Tài chính (UBCKNN) đã có công văn số 1487/UBCK-PTTT gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư tham gia ý kiến đối với dự thảo Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với NĐTNN, theo đó có các vấn đề còn vướng mắc sau:
- Việc tham gia của NĐTNN trên TTCK đều thông qua mua bán cổ phần của các công ty đang niêm yết, đăng ký giao dịch (mang tính gián tiếp). Trong khi đó, các cam kết quốc tế chỉ mang tính chất trực tiếp (như cam kết về hình thức đầu tư, hiện diện thương mại dưới dạng liên doanh, công ty TNHH, hợp đồng hợp tác đầu tư…).
- Các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với NĐTNN chưa tương ứng với ngành nghề được ban hành theo Quyết định 27/2018/QĐ-TTg ngày 06/7/2018 ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.
- Nhiều ngành, nghề chưa xác định rõ ràng về tỷ lệ SHNN và có nhiều cách hiểu khác nhau.
1.4. Đề xuất xử lý vướng mắc và trách nhiệm của các cơ quan
- Về hiệu lực của VBQPPL hướng dẫn thực thi cam kết FTA chưa đồng thời với hiệu lực của FTA: Các cơ quan chủ trì thực thi cam kết, trong đó có Bộ Tài chính, bị động trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của FTA. Trong khi đó, thời gian lấy ý kiến góp ý đối với các dự thảo Nghị định, Thông tư thường kéo dài hơn so với quy định của Luật Ban hành VBQPPL do chịu ảnh hưởng của một số yếu tố (ví dụ: biểu thuế CPTPP phức tạp nên thời gian tiến hành chuyển đổi, xin ý kiến phê duyệt kết quả chuyển đổi, và thống nhất kết quả chuyển đổi giữa các nước thành viên bị kéo dài hơn so với các FTA khác; do có sự khác biệt và phức tạp trong áp dụng các thuật ngữ “lãnh thổ” và “lãnh thổ hải quan” nên ngoài các bước lấy ý kiến theo quy định, Bộ Tài chính phải tiến hành tham vấn bổ sung với Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp về việc làm rõ một số quy định của Hiệp định EVFTA liên quan đến xác định phạm vi lãnh thổ hưởng ưu đãi thuế theo Hiệp định này,...). Vì vậy, đề xuất tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, đặc biệt là từ phía cơ quan đề xuất đàm phán điều ước quốc tế, nhằm đảm bảo sự chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch thực thi cam kết của các cơ quan chủ trì thực thi.
- Về quy định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài: Để đảm bảo thống nhất trong áp dụng, tạo thuận lợi cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp, trên cơ sở các vướng mắc đã nêu tại công văn số 1487/UBCK-PTTT ngày 19/4/2021 của Bộ Tài chính (UBCKNN) gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đã đề xuất Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Bộ, ngành để làm rõ tỷ lệ SHNN cụ thể đối với ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với NĐTNN.
2. Đánh giá việc thực thi cam kết FTA của Việt Nam từ năm 2015 đến nay và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực hội nhập của Việt Nam trong lĩnh vực tài chính
2.1. Đánh giá việc thực thi cam kết FTA của Việt Nam từ năm 2015 đến nay
2.1.1. Đánh giá về việc ban hành các chính sách, pháp luật để triển khai thực hiện các FTA
a) Về việc thực hiện cam kết thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu của Việt Nam trong các FTA
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, các Nghị định ban hành biểu thuế của Chính phủ Việt Nam để thực hiện FTA đã đảm bảo được các yêu cầu sau:
         - Phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, trong đó có chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016, Luật Hải quan năm 2014.
         - Đảm bảo tương thích, đồng bộ với các Luật, Nghị định liên quan như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Quản lý thuế, Nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư, Nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư, Luật quản lý ngoại thương.
-Đảm bảo phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Việc ban hành Nghị định theo Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 5 năm sẽ hỗ trợ công tác thống kê hải quan về xuất nhập khẩu, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, tạo môi trường kinh doanh minh bạch về thuế suất, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và cơ quan  hải quan trong triển khai thực hiện.
Việc triển khai thực hiện cắt giảm/xóa bỏ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam trong các FTA đã tuân thủ theo đúng lộ trình cam kết. Đến nay, quá trình áp dụng thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi, thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam theo các Nghị định của Chính phủ chưa có vướng mắc.
b) Về việc thực hiện cam kết dịch vụ
Có thể nói, hệ thống văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán đã tương đối hoàn thiện, đảm bảo thực thi đầy đủ các cam kết quốc tế của Việt Nam. Bên cạnh đó, Luật Chứng khoán sửa đổi đã được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2019. Luật sửa đổi đã tiệm cận với yêu cầu thực tế, tiếp thu và luật hóa nhiều thông lệ quốc tế, tăng tính minh bạch của thị trường cũng như tương thích với các điều ước, cam kết quốc tế. Nhiều quy định của Luật Chứng khoán sửa đổi như quy định về sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thành lập chi nhánh công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam, quản trị công ty đại chúng, thẩm quyền của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong quản lý, giám sát và cưỡng chế thực thi… được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, tương thích, đảm bảo thực thi các nghĩa vụ cam kết trong các điều ước, cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Về hệ thống VBQPPL điều chỉnh hoạt động của thị trường bảo hiểm, Bộ Tài chính đã đẩy mạnh giám sát, xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách đáp ứng các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế cũng như phù hợp với các cam kết gia nhập WTO.
c) Về việc thực hiện cam kết trong lĩnh vực hải quan
Các vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng VBQPPL trong lĩnh vực hải quan đã được phản ánh và sửa đổi, bổ sung kịp thời nhằm tăng cường tính minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người khai hải quan và công chức hải quan dễ dàng áp dụng vào thực tế.
2.1.2. Kết quả thực hiện FTA trong các lĩnh vực tài chính
a) Về thương mại hàng hóa
Kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã chính thức tham gia, ký kết 15 FTA, trong đó 14 FTA đang thực hiện và 01 FTA đã ký kết nhưng chưa có hiệu lực; đang đàm phán 2 FTA. Đến nay, một số FTA đã hoàn thành lộ trình cắt giảm thuế như ASEAN hoàn thành năm 2018, ASEAN - Trung Quốc hoàn thành năm 2020, ASEAN - Hàn Quốc hoàn thành năm 2021. Nhiều FTA đang thực hiện của Việt Nam có tiêu chuẩn cao, toàn diện như: Hiệp định CPTPP có hiệu lực kể từ 14/01/2019, EVFTA có hiệu lực 01/8/2020. Kể từ khi thực hiện các FTA, cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu trong các FTA góp phần thúc đẩy thương mại, không chỉ kim ngạch và tỷ trọng nhập khẩu của Việt Nam từ các thị trường tham gia hiệp định FTA ngày càng tăng mà còn tăng cường, mở rộng thị trường xuất khẩu các mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam sang nhiều thị trường đối tác FTA lớn. Thực thi cam kết FTA cũng mở ra cơ hội thúc đẩy đầu tư, thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài, chuyển dịch luồng vốn đầu tư vào Việt Nam. Diện mạo khung khổ pháp lý, thể chế chính sách về kinh tế, thương mại, đầu tư, cũng như phương thức quản lý kinh tế của Việt Nam cũng được thay đổi. Công tác xây dựng chính sách dần được hoàn thiện, từng bước đưa hệ thống chính sách của Việt Nam tiệm cận với thông lệ quốc tế, giúp nền kinh tế Việt Nam có những bước chuyển biến rõ nét.
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra nhiều không gian phát triển mới cho kinh tế đất nước. Theo đó, GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2019 luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao ở mức 6,8 -7%, tuy nhiên, năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 dẫn tới GDP chỉ đạt ở mức 2,91%. Việc mở rộng FTA với nhiều đối tác không những giúp Việt Nam tránh phụ thuộc vào các thị trường truyền thống mà còn đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đặc biệt là lợi thế thương mại từ các thị trường mới. Cán cân thương mại tăng nhanh, trong giai đoạn 5 năm từ 2016-2020, cán cân thương mại đã có dịch chuyển đáng ghi nhận từ nhập siêu sang xuất siêu.
Nhìn một cách tổng thể thì việc cắt giảm thuế cũng sẽ dẫn tới việc thúc đẩy gia tăng kim ngạch thương mại. Các mặt hàng được giảm thuế nhập khẩu sẽ có số lượng xuất, nhập khẩu gia tăng. Đối với kim ngạch nhập khẩu, năm 2016 đạt 174,63 tỷ USD thì đến năm 2020, kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt 262,7 tỷ USD, tăng 50% so với năm 2016. Đối với kim ngạch xuất khẩu, năm 2016 đạt 176,17 tỷ USD thì đến năm 2020 đạt 282,65 tỷ USD, tăng 60% so với năm 2016. Nếu so sánh với tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này thì tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu cao hơn rất nhiều.
b) Về dịch vụ chứng khoán
Số liệu cho thấy tổng giá trị danh mục của NĐTNN giai đoạn 2015-2020 có xu thế tăng (chi tiết tại bảng dưới). Nguyên nhân là do: (i) Bộ Tài chính (UBCKNN) tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo lập một hệ thống pháp lý chặt chẽ, thống nhất, bảo đảm thị trường hoạt động minh bạch, an toàn; tiếp tục thực hiện các cải cách thủ tục hành chính cho NĐTNN tham gia và đầu tư vào TTCK Việt Nam như thủ tục mở mã số giao dịch chứng khoán trực tuyến, thủ tục mở tài khoản thanh toán cho quỹ đầu tư nước ngoài; thực hiện nghiêm kỷ luật kỷ cương thị trường, tạo niềm tin cho NĐTNN; (ii) dòng vốn gián tiếp nước ngoài tiếp tục vào ròng, thể hiện sự đánh giá lạc quan của NĐTNN đối với TTCK Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung; (iii) chỉ số VnIndex có sự tăng trưởng mạnh từ năm 2017, giá trị danh mục của NĐTNN luôn bám sát diễn biến của chỉ số VnIndex.

Năm - Tổng Giá trị danh mục của NĐTNN (Đơn vị: tỷ usd)
2015 - 14,73
2016 - 17,30
2017 - 32,87
2018 - 32,60
2019 - 36,60
2020 - 45,1

- Số liệu đầu tư gián tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài từ 2015 đến 2020: Việc đầu tư gián tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán thực hiện theo quy định tại Nghị định số 135/2015/NĐ-CP và Thông tư số 105/2016/TT-BTC. Từ 2015 đến nay, trong phạm vi quản lý của UBCKNN, chưa có công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán nộp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.
c) Về dịch vụ bảo hiểm
Việc đầu tư ra nước ngoài đối với doanh nghiệp bảo hiểm được quy định tại Điều 59, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 60 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ. Đến nay, có 04 doanh nghiệp bảo hiểm đã được Bộ Tài chính chấp thuận đầu tư ra nước ngoài (PTI, BSH, BIC và Phú Hưng Life), trong đó có PTI và BIC là 02 doanh nghiệp bảo hiểm có nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước. Phú Hưng Life, công ty cổ phần không có nguồn vốn đầu tư của nhà nước, đang được xem xét chấp thuận chủ trương cho phép đầu tư thành lập công ty con tại Campuchia với số vốn đầu tư từ nguồn vốn chủ sở hữu là 5.990.000 USD (tương đương 140 tỷ đồng). Trong thời gian qua, Bộ Tài chính không nhận được phản ánh của các doanh nghiệp bảo hiểm về các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài.
d)Về ngân sách nhà nước
Từ năm 2015 đến nay, tỷ trọng thu ngân sách nhà nước từ thuế nhập khẩu trên tổng thu ngân sách nhà nước có xu hướng giảm so với giai đoạn từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến năm 2014 do thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ngày càng vào lộ trình cắt giảm sâu.
Mặc dù vậy, quy mô thu ngân sách nhà nước từ thuế tăng nhanh, cơ cấu thu đã thay đổi theo hướng tích cực tăng tỷ trọng từ nguồn thu nội địa, từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thu nội địa chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN, cụ thể: giai đoạn 2001-2010 bình quân đạt 55,2%, giai đoạn 2016-2018 bình quân đạt 74,8% (trong đó, năm 2018 là 80,6%, năm 2020 đạt 85,6%, hoàn thành mục tiêu theo Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị (mục tiêu dự kiến là 84-85%).
Xu hướng giảm thu ngân sách do tác động từ việc thực hiện cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu của Việt Nam trong các FTA là không tránh khỏi nhưng sẽ được bù đắp bằng kết quả của việc thực hiện các biện pháp điều hành chính sách liên quan đến thuế nội địa một cách hợp lý và hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng tốt.
2.2. Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực hội nhập của Việt Nam
Hiện nay, Bộ Tài chính đang xây dựng Chiến lược tài chính giai đoạn 2021-2030 trong đó các giải pháp nâng cao năng lực hội nhập của Việt Nam đang được Bộ Tài chính hoàn thiện trên cơ sở các ý kiến góp ý của các cơ quan có liên quan.
Một số giải pháp chính về chủ động hội nhập quốc tế về tài chính gồm: Tiếp tục xây dựng và thực thi nghiêm túc các cam kết hội nhập về thuế, hải quan, dịch vụ bảo hiểm, chứng khoán, kế toán kiểm toán…; hoàn thiện thể chế, đặc biệt là hệ thống văn bản nội luật hóa thực thi cam kết tài chính đồng bộ và kịp thời; nghiên cứu, đề xuất thực thi cam kết thuế xuất nhập khẩu một cách chủ động hơn trong các khung khổ đa phương và FTA; tăng cường hiệu quả thực hiện các cam kết hội nhập tài chính thông qua: nâng cao chất lượng công tác đánh giá và dự báo tác động tới nền kinh tế và ngành tài chính; nghiên cứu đề xuất các cơ chế/chính sách bổ sung để đảm bảo an toàn thị trường tài chính trong điều kiện thực hiện đầy đủ cam kết hội nhập thị trường tài chính; tăng cường và nâng cao hiệu quả thông tin tuyên truyền về lợi ích và thách thức từ thực thi các cam kết tài chính tới các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó, tham gia các FTA cũng khiến hàng hoá Việt Nam đối mặt với nhiều bất lợi từ việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại của các nước đối tác. Việc bị điều tra đã làm phát sinh nhiều chi phí đối với doanh nghiệp Việt Nam khi theo đuổi các vụ kiện, mặc dù đã chuẩn bị các căn cứ để giải trình nhưng kết quả cuối cùng, cơ bản doanh nghiệp Việt Nam vẫn bị áp thuế tự vệ đối với hàng hoá bị kiện. Vì vậy, đề nghị Bộ Công Thương đánh giá và dự báo khả năng bị áp thuế phòng vệ thương mại đối với các ngành hàng sản xuất trong nước trên cơ sở rà soát các khuôn khổ cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, từ đó, đề xuất các giải pháp điều chỉnh chính sách pháp luật trong nước và sửa đổi, bổ sung cam kết quốc tế cho phù hợp./.

Danh mục các VBQPPL ban hành để thực thi cam kết cắt giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong các FTA đang có hiệu lực của Việt Nam

  1. Nghị định số 125/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác kinh tế giai đoạn 2016 - 2019
  2. Nghị định số 126/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ giai đoạn 2016 - 2018
  3. Nghị định số 127/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thành lập Khu vực Thương mại tự do ASEAN- Ôt-xtrây-lia - Niu Di-lân giai đoạn 2016 - 2018
  4. Nghị định số 128/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2016 - 2018
  5. Nghị định số 129/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN giai đoạn 2016 - 2018
  6. Nghị định số 130/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Hàn Quốc giai đoạn 2016 - 2018
  7. Nghị định số 131/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 2016 - 2018
  8. Nghị định số 132/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Chi Lê giai đoạn 2016 - 2018
  9. Nghị định số 133/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản giai đoạn 2016 - 2019
  10. Nghị định số 137/2016/NĐ-CP ngày 29/9/2016 của Chính phủ về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa một bên là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bên kia là Liên minh Kinh tế Á - Âu và các nước thành viên giai đoạn 2016 - 2018
  11. Nghị định số 149/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 của Chính phủ về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 2018 - 2022
  12. Nghị định số 150/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 của Chính phủ về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa một bên là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bên kia là Liên minh Kinh tế Á-Âu và các nước thành viên giai đoạn 2018 - 2022
  13. Nghị định số 153/2017/NĐ-CP ngày 27/12/2017 của Chính phủ về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2018 - 2022
  14. Nghị định số 154/2017/NĐ-CP ngày 27/12/2017 của Chính phủ về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Chi Lê giai đoạn 2018 - 2022
  15. Nghị định số 155/2017/NĐ-CP ngày 27/12/2017 của Chính phủ về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác kinh tế giai đoạn 2018 - 2023
  16. Nghị định số 156/2017/NĐ-CP ngày 27/12/2017 của Chính phủ về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN giai đoạn 2018 - 2022
  17. Nghị định số 157/2017/NĐ-CP ngày 27/12/2017 của Chính phủ về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Hàn Quốc giai đoạn 2018 - 2022
  18. Nghị định số 158/2017/NĐ-CP ngày 27/12/2017 của Chính phủ về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thành lập Khu vực Thương mại tự do ASEAN - Ôt-xtrây-lia - Niu Di-lân giai đoạn 2018 - 2022
  19. Nghị định số 159/2017/NĐ-CP ngày 27/12/2017 của Chính phủ về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ giai đoạn 2018 - 2022
  20. Nghị định số 160/2017/NĐ-CP ngày 27/12/2017 của Chính phủ về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản giai đoạn 2018 - 2023
  21. Nghị định số 57/2019/NĐ-CP ngày 26/6/2019 về Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác Tiến bộ và Toàn diện Xuyên Thái Bình Dương giai đoạn 2019 - 2022
  22. Nghị định số 07/2020/NĐ-CP ngày 05/01/2020 về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Hồng Kông, Trung Quốc giai đoạn 2019 - 2022
  23. Nghị định số 111/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 về Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu giai đoạn 2020 - 2022
  24. Nghị định số 53/2021/NĐ-CP ngày 21/5/2021 về Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len giai đoạn 2021 - 2022

Danh mục các VBQPPL ban hành để thực hiện cam kết về hải quan và tạo thuận lợi thương mại trong các FTA đang thực hiện của Việt Nam

  1. Luật Hải quan năm 2014
  2. Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan
  3. Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan
  4. Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
  5. Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
  6. Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
  7. Thông tư số 60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
  8. Thông tư số 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
  9. Thông tư số 62/2019/TT-BTC ngày 05/9/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
  10. Thông tư số 07/2021/TT-BTC ngày 25/01/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu trong Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu


Xem thêm
2021-06-17, 14:06 PM » Tình hình triển khai và kết quả thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020
2021-06-15, 09:06 AM » Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu và cân bằng cán cân thương mại
2021-05-29, 16:05 PM » Phiên rà soát chính sách thương mại của Việt Nam (lần 3)
2021-04-15, 04:04 AM » Tình hình thực hiện Hiệp định tạo thuận lợi thương mại WTO của Việt Nam
2021-02-10, 22:02 PM » Tình hình thực hiện Hiệp định Việt Nam-Campuchia vận tải thủy
2021-02-10, 20:02 PM » Chiến lược Phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam
2021-02-09, 20:02 PM » Kinh nghiệm ứng dụng CNTT phục vụ hiện đại hóa của Hải quan Hàn Quốc, Trung Quốc
2021-02-09, 12:02 PM » Website của Thương vụ Việt Nam tại Thuỵ Điển
2021-02-09, 00:02 AM » Hải quan Mỹ: 100% thông tin manifest được rà soát điện tử trước khi hàng đến
2021-01-07, 19:01 PM » Danh mục dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam



Users browsing this thread: 1 Guest(s)