Đăng nhập

XUẤT NHẬP KHẨU

Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu và cân bằng cán cân thương mại

56 lượt xem
#1
6293/BTC-TCHQ ngày 11/06/2021

1. Tổng quan về tình hình xuất nhập khẩu trong những năm qua
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan thì tổng quy mô hàng hóa XNK của giai đoạn 2016-2020 đạt 2.323 tỷ USD, với mức bình quân mỗi năm là 465 tỷ USD/năm, tăng 76% so với mức bình quân năm của giai đoạn 2011-2015. Trong đó, xuất khẩu đạt 237 tỷ USD/năm, tăng 81% và nhập khẩu đạt 228 tỷ USD/năm tăng 71,7% so với giai đoạn 2011-2015. Như vậy xét về số tuyệt đối, quy mô hàng hóa xuất nhập khẩu của cả giai đoạn 2016-2020 đã tăng tới hơn 1 nghìn tỷ USD so với giai đoạn 2011-2015. Với tăng trưởng dương liên tục 10 năm liền, xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã tăng từ mức 204 tỷ USD vào năm 2011 lên tới 545 tỷ USD vào năm 2020.
Kể từ năm 2011 trở về trước, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam luôn trong trạng thái thâm hụt, kéo dài liên tục và đỉnh điểm lên tới 18,02 tỷ USD trong năm 2008. Từ năm 2012 đến nay, cán cân thương mại đã đổi chiều, thặng dư liên tục gia tăng (trừ năm 2015, thâm hụt 3,55 tỷ USD). Kết thúc năm 2020, Việt Nam xuất siêu đạt mức kỷ lục lên tới 19,94 tỷ USD (tốc độ tăng xuất siêu trung bình đạt 67%).
Ba đối tác xuất nhập khẩu hàng đầu của Việt Nam là Trung Quốc, Hoa Kỳ và EU lần lượt chiếm tỷ lệ trung bình 20,6%, 12,6% và 12% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam:
- Hoa Kỳ: Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang Hoa Kỳ với kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2016-2020 là gần 53,2 tỷ USD/1 năm, kim ngạch tăng mạnh trong 2 năm 2019 và 2020 (tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 27,3%/năm), chiếm 27% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (số liệu năm 2020). Nhập khẩu của Việt Nam với Hoa Kỳ với kim ngạch nhập khẩu bình quân giai đoạn 2016-2020 là gần 11,7 tỷ USD/1 năm chiếm 5% tổng kim ngạch nhập khẩu.
- Trung Quốc: Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc năm 2020 đã vượt EU, đưa Trung Quốc trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2016-2020 là gần 37,8 tỷ USD/1 năm, chiếm 17,3% tổng kim ngạch xuất khẩu (số liệu năm 2020). Nhập khẩu Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Trung Quốc, với kim ngạch nhập khẩu bình quân giai đoạn 2016-2020 là gần 66,7 tỷ USD/1 năm, chiếm khoảng 32% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam (số liệu năm 2020).
- EU: Xuất khẩu sang EU với kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2016- 2020 là gần 33,7 tỷ USD/1 năm, chiếm trên 14% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nhập khẩu của Việt Nam với EU với kim ngạch nhập khẩu bình quân giai đoạn 2016- 2020 là gần 12,7 tỷ USD/1 năm, chiếm gần 6% tổng kim ngạch nhập khẩu.
Trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam có thặng dư thương mại lớn với EU (trung bình trên 25 tỷ USD trong 5 năm gần nhất) và Hoa Kỳ (đặc biệt tăng mạnh trong 2 năm trở lại đây với tốc độ trung bình 35%/năm). Thâm hụt thương mại lớn nhất của Việt Nam nằm ở thị trường Trung Quốc và có xu hướng tăng mạnh từ năm 2019. Năm 2020 thâm hụt thương mại Việt Nam - Trung Quốc đạt mức kỷ lục trên 35 tỷ USD.
Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, hàng gia công, sản xuất xuất khẩu chiếm khoảng gần 80% kim ngạch xuất khẩu và hàng kinh doanh chiếm khoảng 20%. Theo đó, hàng xuất khẩu sang 2 thị trường lớn là EU và Hoa Kỳ có tỷ lệ hàng GC, SXXK chiếm khoảng lần lượt trung bình 86% và gần 90%. Riêng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tỷ lệ hàng kinh doanh lại chiếm ưu thế với trung bình 63,7% và hàng GC, SXXK chỉ chiếm 30,1% cho cả giai đoạn 2016-2020.
Trong cơ cấu hàng nhập khẩu, tỷ lệ giữa hàng hóa mở theo loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu và hàng hóa mở theo loại hình kinh doanh lại khá cân bằng lần lượt ở mức 47% và 49%. Trong đó, tỷ lệ hàng gia công, sản xuất xuất khẩu và hàng kinh doanh nhập khẩu từ 2 thị trường là Trung Quốc và Hoa Kỳ khá cân bằng ở mức 54,6% và 42,7% ở thị trường Trung Quốc và 47,1% và 51,6% thì tại thị trường EU, hàng hóa nhập khẩu từ EU chủ yếu được mở theo các loại hình kinh doanh (chiếm trung bình 67,3%) cho giai đoạn 2016-2020.
Để đạt được thành tựu nêu trên, đó là kết quả của sự lỗ lực của cả hệ thống Chính trị, là thành quả của cộng đồng doanh nghiệp và người lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Bộ Tài chính nhận thấy vẫn còn tồn tại những yếu tố tác động tiêu cực, tiềm ẩn rủi ro đối với hoạt động xuất khẩu như thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng, đa dạng hơn khi Việt Nam gia nhập một số Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định CPTPP, Hiệp định EVFTA. Đó là rủi ro về gian lận, giả mạo xuất xứ, nhãn hiệu hàng hoá, chuyển tải bất hợp pháp. Thực tế, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) cũng đã phát hiện các vụ việc vi phạm giả mạo xuất xứ về các nhóm mặt hàng đồ gỗ nội thất, thủy sản; mặt hàng điện, điện tử; mặt hàng nệm mút, mặt ghế sofa bằng mút, tấm module năng lượng mặt trời, xe đạp, xe đạp điện không đáp ứng tiêu chí xuất xứ để được công nhận là xuất xứ Việt Nam... Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam chấp hành tốt pháp luật; về phía các đổi tác nhập khẩu như Hoa Kỳ, EU đã có những động thái điều tra xác minh, áp dụng thuế phòng vệ thương mại đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.
Nhằm kịp thời ngăn chặn tình trạng gian lận ảnh hưởng xấu đến thương mại, thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã có nhiều giải pháp để chống gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn không đúng quy định, chuyển tải bất hợp pháp như: Hoàn thiện hệ thống pháp lý về xuất xứ hàng hóa, tăng cường công tác kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa để xử lý nghiêm các hành vi gian lận xuất xứ, chuyển tải bất họp pháp; tăng cường năng lực bộ máy giám sát, kiểm tra để triển khai có hiệu quả các giải pháp chống gian lận xuất xứ hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để ngăn chặn, phòng ngừa không để xảy ra các vụ việc gian lận xuất xứ hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp trong hoạt động xuất nhập khẩu và đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phối hợp ngăn chặn và xử lý các vụ việc gian lận xuất xứ hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Những giải pháp trên đây đã có những tác động tích cực và đạt được những hiệu quả nhất định trong giai đoạn 2016-2020. Tuy nhiên những rủi ro về gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn không đúng quy định, chuyển tải bất hợp pháp vẫn còn là nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất trong nước cũng như quan hệ thương mại của Việt Nam và các nước. Do vậy cần có những biện pháp chỉ đạo tập trung quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để thực hiện mục tiêu chống gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn không đúng quy định, chuyển tải bất hợp pháp một cách đồng bộ có hiệu quả hơn nữa.
Trong điều kiện dịch bệnh có những diễn biến phức tạp, tuy nhiên với sự chỉ đạo quyêt liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của các Bộ, ngành và quyết tâm khắc phục khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp, trong 5 tháng đầu năm 2021, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 262,73 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu đạt 131,13 tỷ USD, tăng 30,9% và tổng trị giá nhập khẩu là 131,6 tỷ USD, tăng 36,7%. Với kết quả này, quy mô xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 5 tháng/2021 đã tăng 66,26 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, quy mô xuất khẩu tăng 30,96 tỷ USD và quy mô nhập khẩu tăng 35,3 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2021 thâm hụt 473 triệu USD, ngược với con số thặng dư 3,87 tỷ USD của 5 tháng/2020. Tính đến hết tháng 5/2021, xuất khẩu sang tất cả các thị trường chính của Việt Nam đều tăng rất cao, thậm chí nhiều thị trường đã cán mốc kỷ lục trong 5 tháng. Trong khi đó, hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam trong 5 tháng/2021 cũng đạt kỷ lục ở nhiêu thị trường chủ lực, đặc biệt nhập khẩu từ Trung Quôc tăng rất mạnh. Trong đó, theo số liệu thống kê tương đối, trong 5 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc là hơn 20,2 tỷ USD, Hoa Kỳ hơn 37,4 tỷ USD, EU là hơn 16,1 tỷ USD; kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc là hơn 73,7 tỷ USD, Hoa Kỳ hon 6,4 tỷ USD, EU là gần 6,8 tỷ USD.
Theo dự báo sơ bộ năm 2021 kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng tốt tương ứng là 9% đối với hàng xuất khẩu và 11,2% đối với hàng nhập khẩu, cán cân thương mại ước thặng dư 16 tỷ USD.
2. Đề xuất giải pháp
Nhằm tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu, cân bằng cán cân thương mại trong thời gian tới Bộ Tài chính đề xuất Chỉnh phủ, Bộ/Ngành, UBND các tỉnh, thành phố một số giải pháp sau:
a) Bộ Tài chính
* Giải pháp về Chính sách thuế:
- Thực hiện rà soát các nội dung vướng mắc, bất cập về chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để sửa đổi, bổ sung đảm bảo phù hợp thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam để thúc đẩy việc mở rộng thị trường xuất khẩu, hạn chế việc nhập khẩu các mặt hàng trong nước đã sản xuất được. Đồng thời, có chính sách phù hợp để hạn chế xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô chưa qua chế biến.
- Tăng cường hiệu quả hợp tác tài chính, thuế thông qua các thỏa thuận hợp tác với các đối tác quan trọng như các tổ chức, diễn đàn tài chính quốc tế. Tiếp tục xây dựng và thực thi nghiêm túc các cam kết hội nhập về cắt giảm thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết và tham gia; nghiên cứu, đề xuất thực thi cam kết thuế xuất nhập khẩu một cách chủ động hơn trong các khung khổ đa phương và các hiệp định thương mại tự do để hướng tới mục tiêu giảm tập trung thương mại từ một số đối tác cụ thể, góp phần đa dạng hóa cơ cấu thị trường xuất khẩu, nhập khẩu.
* Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp:
- Tăng cường trao đổi thông tin với các doanh nghiệp thường xuyên thực hiện hoạt động XNK nhằm hỗ trợ giải quyết kịp thời các vướng mắc để tạo thuận lợi cho hoạt động XNK.
- Tiếp tục đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về tận dụng ưu đãi thuế quan trong các Hiệp định thương mại tự do; phối hợp với các thương vụ, sứ quán ở nước ngoài, trong nước để có thông tin về các chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu mà các đối tác đang thực thi để cung cấp cho doanh nghiệp chủ động trong sản xuất, xuất khẩu.
* Giải pháp về tạo thuận lợi trong thủ tục hải quan:
- Bộ Tài chính chủ trì xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp lý theo mục tiêu cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hoá (giảm thời gian thông quan/giải phóng hàng).
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng các công nghệ hiện đại để xây dựng hệ thống hải quan điện tử thông minh đáp ứng yêu cầu cải cách hiện đại hóa hải quan và tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hải quan.
- Các bộ ngành hướng tới mục tiêu giải quyết 100% thủ tục hành chính đối với hàng hoá xuất nhập khẩu thông qua cổng thông tin một cửa quốc gia.
* Giải pháp về chống gian lận thương mại:
- Tăng cường công tác phổi hợp chia sẻ, trao đổi thông tin với Bộ Công Thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về xuất nhập khẩu. Việc cấp C/O được thực hiện thông qua cổng thông tin một cửa quốc gia (Bộ Tài chính đã nhiều lần làm việc với các đơn vị để đưa thông tin về việc cấp C/O lên hệ thống một cửa quốc gia tuy nhiên hiện nay mới chỉ có rất ít thông tin được kết nối (C/O form D) gây khó khăn cho cơ quan hải quan trong việc kiểm tra xác minh thông tin).
- Tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch phòng chống gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa không đúng quy định, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, chuyển tải bất hợp pháp hàng hóa; trọng tâm là các mặt hàng có kim ngạch XNK tăng đột biến, nhóm mặt hàng xuất khẩu vào Hoa Kỳ, EU có sử dụng nguyên vật liệu nhập khẩu.
- Triển khai có hiệu quả Hiệp định giữa Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ hợp chủng quốc Hoa Kỳ về hỗ trợ lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan.
- Xây dựng quy chế tham vấn, phối hợp chặt chẽ với các Hiệp hội ngành hàng để rà soát, xác định các giao dịch có dấu hiệu gian lận, giả mạo xuât xứ, chuyển tải bất hợp pháp để áp dụng các biện pháp nghiệp vụ phù hợp.
b) Bộ Công Thương
- Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành đàm phán với Trung Quốc về chính sách, thủ tục đối với hàng hoá xuất nhập khẩu của nhau trên nguyên tắc thuận lợi hơn và và giảm nhập siêu từ Trung Quốc.
- Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành xem xét một cách kỹ lưỡng các kiến nghị của các nước về việc xuất khẩu hàng hoá vào Việt Nam nhằm cân bằng cán cân thương mại (đặc biệt là kiến nghị của Hoa Kỳ).
- Chỉ đạo các đơn vị thuộc và trực thuộc thực hiện kết nối dữ liệu về xuất xứ hàng hóa giữa Bộ Công Thương, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trên hệ thống cổng thông tin một cửa quốc gia.
- Chỉ đạo Tổng cục quản lý thị trường tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát việc ghi nhãn hàng hóa nhập khẩu, sản xuất trong nước tiêu thụ nội địa để kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm và xử lý kịp thời.
- Hoàn thiện công cụ phân tích, đánh giá tác động hội nhập, nhất là các cam kết về cắt giảm thuế quan, mở rộng thị trường; tăng cường theo dõi, giám sát thực hiện và đánh giá tác động của quá trình hội nhập, đề xuất các giải pháp kịp thời điều chỉnh hợp lý, hạn chế tối đa các tác động tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh trong nước.
c) Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Trong hoạt động quản lý, cấp phép thành lập các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp FDI nói riêng phải phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện theo dõi quá trình thành lập, hoạt động của doanh nghiệp. Khuyến khích thành lập các doanh nghiệp FDI theo hướng thực hiện thực hiện sản xuất, chế biến sâu tại Việt Nam. Không khuyến khích thành lập các doanh nghiệp lắp ráp, sản xuất, chế biến đơn giản để lấy xuất xứ hàng Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài gây ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp đang sản xuất của Việt Nam (Ví dụ: các ngành hàng: Gỗ, xe đạp, xe đạp điện...)
- Do DNCX đang được hưởng các ưu đãi về thuế và khu vực phi thuế quan nên khi sửa đổi, bổ sung Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ về quản lý các khu công nghiệp, khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, tham mưu với Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định về việc DNCX phải nằm trong khu chế xuất để đảm bảo ngăn cách với khu vực bên ngoài và các cơ quan quản lý khác (như cơ quan hải quan...) thực hiện quản lý, kiểm tra, giám sát đối với hàng hoá ra vào DNCX, không để tình trạng như hiện nay DNCX không nằm trong khu chế xuất. Việc bổ sung quy định này cũng để đảm bảo tương đồng với các nước trên thế giới về quản lý DNCX phải tập trung, có khu vực riêng.
d) Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Để tăng khả năng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trên thị trường quốc tế, Bộ Tài chính thấy rằng cần có cách giải pháp đồng bộ của Chính phủ nhằm thiết lập chuỗi liên kết cung cầu từ khâu quy hoạch vùng trồng, chọn giống, kỹ thuật canh tác, công nghệ chế biến đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm, phát triển thương hiệu, ứng dụng số hóa để liên kết sản xuất đến kết nối với các chuỗi phân phối tại thị trường quốc tế đối với từng sản phẩm nông sản chủ lực của Việt Nam.
- Thiết lập các chuỗi sản phẩm để có thể truy xuất nguồn gốc, phát huy các sản phẩm bản địa. Thiết lập hệ thống cung ứng điều phối cung cầu, điều tiết xuất nhập để nâng cao hiệu quả của ngành nông nghiệp các chính sách tài chính, ngân hàng chính sách, bảo hiểm có thể cho vay vốn, bảo hiểm rủi ro cho sản xuất.
- Các dịch vụ cung cấp hỗ trợ cho chuỗi nông nghiệp cần xem xét đến giải pháp công tư để vừa huy động được nguồn hỗ trợ của nhà nước và nguồn lực của doanh nghiệp để tạo tính cạnh tranh cho sản phẩm với hiệu quả đầu tư và nguồn lực đã được phối hợp đồng bộ
đ) UBND tỉnh, thành phố có cửa khẩu biên giới đất liền tiếp giáp với Trung Quốc
- Thực hiện Quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu đi đôi với việc đảm bảo các yêu cầu quản lý của các Bộ, ngành.
- Chủ động trao đổi, làm việc với các địa phương giáp biên nhằm tháo gỡ những ách tắc mang tính cục bộ tạo điều kiện cho việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam.
- Chỉ đạo các lực lượng tại cửa khẩu tập trung tổ chức giải quyết thủ tục tăng cường giờ làm việc, tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng để doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu nông thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc.


Xem thêm
2021-06-24, 13:06 PM » Cẩm nang hướng dẫn xuất nhập khẩu sang thị trường Trung Quốc
2021-06-17, 14:06 PM » Tình hình triển khai và kết quả thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020
2021-06-07, 13:06 PM » Rà soát, đánh giá nghĩa vụ thực hiện lộ trình cam kết tại các FTA của Việt Nam
2021-05-29, 16:05 PM » Phiên rà soát chính sách thương mại của Việt Nam (lần 3)
2021-05-13, 09:05 AM » Thuốc lá, rượu nhập khẩu và sản xuất trong nước phải dán tem điện tử
2021-04-15, 04:04 AM » Tình hình thực hiện Hiệp định tạo thuận lợi thương mại WTO của Việt Nam
2021-03-16, 01:03 AM » Cảnh báo các hành vi lừa đảo, gian lận thương mại của một số Doanh nghiệp tại UAE
2021-03-16, 01:03 AM » THỦ TỤC XUẤT KHẨU BƠM TIÊM DÙNG MỘT LẦN BẰNG NHỰA
2021-02-10, 22:02 PM » Tình hình thực hiện Hiệp định Việt Nam-Campuchia vận tải thủy
2021-02-10, 20:02 PM » Chiến lược Phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam



Users browsing this thread: 1 Guest(s)